kết quả thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi

kết quả thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi

Ngày đăng: 22-09-2026

43 lượt xem

Thời gian thẩm định, nội dung thẩm định và kết quả thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi là ba bộ phận có quan hệ chặt chẽ trong cơ chế kiểm soát dự án của cơ quan chuyên môn về xây dựng hoặc Hội đồng thẩm định. Thời gian thẩm định xác định giới hạn xử lý hồ sơ; nội dung thẩm định xác định những vấn đề chuyên môn phải được kiểm tra, đánh giá; còn kết quả thẩm định phản ánh mức độ đáp ứng của dự án đối với từng nội dung đã được xem xét và đưa ra kết luận phục vụ các bước tiếp theo. Vì vậy, khi nghiên cứu quy định về thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi không nên tách riêng thời hạn xử lý khỏi phạm vi chuyên môn, bởi một kết quả thẩm định chỉ thực sự hoàn chỉnh khi vừa được thực hiện trong thời gian quy định, vừa xem xét đầy đủ những nội dung thuộc trách nhiệm của cơ quan thẩm định.

Nguyên tắc đầu tiên và có ý nghĩa quyết định đối với việc xác định thời gian là thời gian thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi được tính kể từ ngày cơ quan thẩm định nhận đủ hồ sơ hợp lệ. Mốc này cần được phân biệt với ngày cơ quan chuẩn bị dự án lần đầu gửi hồ sơ, ngày hồ sơ đến bộ phận tiếp nhận hoặc ngày cơ quan chuẩn bị dự án bắt đầu thực hiện thủ tục. Chỉ khi hồ sơ đã đáp ứng yêu cầu về thành phần và tính hợp lệ thì thời gian thẩm định mới được tính theo các giới hạn tương ứng.

Quy định này có mối liên hệ trực tiếp với trình tự tiếp nhận và kiểm tra hồ sơ. Một hồ sơ đã được gửi đến nhưng còn thiếu thành phần hoặc chưa đáp ứng yêu cầu để được xác định là hồ sơ hợp lệ thì chưa thể mặc nhiên lấy ngày gửi hồ sơ làm ngày bắt đầu tính thời gian thẩm định. Vì vậy, chất lượng chuẩn bị hồ sơ ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ thực hiện thủ tục.

Nếu cơ quan chuẩn bị dự án tổ chức hồ sơ đầy đủ, thống nhất và đúng yêu cầu ngay từ đầu thì khả năng xác lập sớm thời điểm nhận đủ hồ sơ hợp lệ sẽ cao hơn. Ngược lại, nếu hồ sơ phải bổ sung nhiều tài liệu trước khi đáp ứng điều kiện thì tiến độ thực tế của quá trình chuẩn bị và thẩm định dự án có thể kéo dài dù thời hạn thẩm định chính thức vẫn được giới hạn theo quy định.

Sau khi xác định được ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, thời gian thẩm định được áp dụng theo loại và quy mô của dự án. Đối với dự án quan trọng quốc gia, thời gian thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi không quá 60 ngày. Đây là một mốc riêng được áp dụng cho nhóm dự án có tính chất quan trọng quốc gia.

Đối với các dự án nhóm A, nhóm B và nhóm C, thời gian thẩm định không chỉ phụ thuộc vào nhóm dự án mà còn được phân biệt dựa trên việc dự án có công trình cấp I trở lên hay không. Đây là điểm quan trọng khi xác định thời hạn bởi nếu chỉ biết nhóm dự án mà chưa xác định cấp công trình thì chưa thể lựa chọn chính xác mốc thời gian áp dụng.

Đối với dự án nhóm A có công trình cấp I trở lên, thời gian thẩm định không quá 25 ngày làm việc. Đối với những dự án nhóm A còn lại, thời gian thẩm định không quá 20 ngày làm việc. Như vậy, ngay trong cùng nhóm A đã tồn tại hai mức thời gian khác nhau.

Đối với dự án nhóm B có công trình cấp I trở lên, thời gian thẩm định không quá 20 ngày làm việc. Đối với những dự án nhóm B còn lại, thời gian tối đa là 16 ngày làm việc.

Đối với dự án nhóm C có công trình cấp I trở lên, thời gian thẩm định không quá 15 ngày làm việc. Đối với những dự án nhóm C còn lại, thời gian tối đa là 12 ngày làm việc.

Có thể hệ thống các mốc này theo một trật tự tương đối rõ. Dự án quan trọng quốc gia có thời gian tối đa 60 ngày. Dự án nhóm A có hai mức 25 và 20 ngày làm việc; nhóm B có hai mức 20 và 16 ngày làm việc; nhóm C có hai mức 15 và 12 ngày làm việc. Trong mỗi nhóm A, B và C, dự án có công trình cấp I trở lên được áp dụng mức thời gian dài hơn.

Sự phân tầng này phản ánh việc xác định thời gian thẩm định không chỉ dựa trên quy mô đầu tư theo nhóm dự án mà còn xét đến cấp công trình. Vì vậy, trong thực tế quản lý tiến độ, cơ quan chuẩn bị dự án cần xác định chính xác cả hai yếu tố trước khi dự kiến thời điểm hoàn thành thủ tục.

Ngoài thời gian thẩm định thông thường, pháp luật còn dự liệu trường hợp cần gia hạn. Tuy nhiên, việc gia hạn không phải là cơ chế được sử dụng không giới hạn. Cơ quan thẩm định chỉ được gia hạn một lần.

Khi cần gia hạn, cơ quan thẩm định phải có văn bản gửi đến người đề nghị thẩm định. Trong văn bản phải nêu rõ lý do cần gia hạn và thời gian gia hạn. Điều này bảo đảm người đề nghị thẩm định được thông tin cụ thể về nguyên nhân thủ tục chưa thể hoàn thành trong thời gian thông thường và biết được thời gian xử lý bổ sung.

Thời gian gia hạn không được vượt quá thời gian thẩm định tương ứng được quy định đối với chính dự án đó. Đây là giới hạn tối đa chứ không phải khoảng thời gian được tự động cộng thêm.

Chẳng hạn, đối với dự án nhóm B còn lại có thời gian thẩm định tối đa 16 ngày làm việc, nếu phát sinh trường hợp cần gia hạn thì thời gian gia hạn cũng không được vượt quá 16 ngày làm việc. Tuy nhiên, cơ quan thẩm định vẫn phải xác định khoảng thời gian gia hạn thực tế và thể hiện trong văn bản, chứ không mặc nhiên áp dụng toàn bộ 16 ngày.

Tương tự, dự án nhóm A có công trình cấp I trở lên có thời gian thẩm định tối đa 25 ngày làm việc thì giới hạn gia hạn cũng không quá 25 ngày làm việc. Nguyên tắc tương tự được áp dụng cho các nhóm dự án còn lại.

Như vậy, cơ chế gia hạn được kiểm soát bởi ba điều kiện cơ bản: phải thực sự có nhu cầu gia hạn, phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cùng thời gian gia hạn, đồng thời chỉ được thực hiện một lần với khoảng thời gian không vượt quá thời hạn thẩm định tương ứng.

Nếu thời gian trả lời câu hỏi “thẩm định trong bao lâu” thì nội dung thẩm định trả lời câu hỏi “cơ quan thẩm định phải xem xét những gì”. Theo đó, cơ quan chuyên môn về xây dựng thực hiện thẩm định các nội dung thuộc khoản 4 Điều 27 Luật Xây dựng năm 2025, đồng thời một số nội dung được cụ thể hóa để làm rõ phạm vi và cách thức đánh giá.

Một trong những nội dung đầu tiên là đánh giá sự phù hợp của thiết kế xây dựng trong Báo cáo nghiên cứu khả thi với quy hoạch được sử dụng làm căn cứ lập dự án. Tuy nhiên, cách thức đánh giá không giống nhau cho tất cả dự án. Tiêu chí đối chiếu thay đổi tùy thuộc loại quy hoạch hoặc cơ sở được sử dụng để lập dự án.

Đối với dự án hạ tầng kỹ thuật khung, cơ quan thẩm định đánh giá sự phù hợp về định hướng và bố trí hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật được nêu trong nội dung quy hoạch sử dụng làm căn cứ lập dự án.

Ở trường hợp này, trọng tâm là xem xét giải pháp thiết kế của dự án có đi đúng định hướng tổ chức hạ tầng và có phù hợp với cách bố trí hệ thống công trình đã được xác lập trong quy hoạch hay không. Như vậy, việc đánh giá không chỉ là xác nhận sự tồn tại của quy hoạch mà phải đối chiếu thiết kế với nội dung cụ thể của quy hoạch.

Đối với dự án sử dụng quy hoạch chi tiết đô thị và nông thôn làm căn cứ lập dự án, phạm vi kiểm tra được cụ thể hóa thành nhiều tiêu chí hơn. Thiết kế xây dựng phải được đánh giá về sự phù hợp với chức năng sử dụng đất, quy mô dân số nếu có, diện tích, chỉ tiêu sử dụng đất quy hoạch và các yêu cầu về tổ chức không gian, kiến trúc cảnh quan được xác định trong hồ sơ quy hoạch.

Điều này có nghĩa cơ quan thẩm định phải đặt thiết kế trong tổng thể các thông số và yêu cầu của quy hoạch chi tiết. Chức năng của khu đất trong thiết kế có phù hợp với chức năng đã được quy hoạch hay không; diện tích và các chỉ tiêu sử dụng đất có tương thích hay không; các giải pháp tổ chức không gian, kiến trúc và cảnh quan có đáp ứng yêu cầu đã được xác lập hay không đều là những vấn đề cần được xem xét.

Đối với dự án sử dụng quy hoạch chi tiết ngành hoặc sử dụng phương án tuyến công trình, vùng tuyến công trình, vị trí công trình đã được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận làm căn cứ lập dự án, cách đánh giá được chuyển sang các tiêu chí phù hợp với đặc điểm của công trình chuyên ngành và công trình theo tuyến.

Cơ quan thẩm định xem xét sự phù hợp về vị trí, hướng tuyến, vùng tuyến đối với công trình xây dựng theo tuyến và các thông số kỹ thuật chủ yếu của thiết kế xây dựng. Các nội dung này được đối chiếu với thông tin trong quy hoạch chi tiết ngành hoặc thông tin của phương án tuyến, vùng tuyến, vị trí công trình đã được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận.

Đối với công trình theo tuyến, vị trí và hướng tuyến có ý nghĩa đặc biệt bởi chỉ cần thay đổi đáng kể hướng tuyến hoặc vùng tuyến cũng có thể làm cho thiết kế không còn thống nhất với căn cứ đã được chấp thuận. Vì vậy, đây là những nội dung phải được nhận diện rõ trong hồ sơ.

Đối với dự án du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí trong rừng, việc đánh giá sự phù hợp của thiết kế được đặt trong mối quan hệ với Đề án du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí trong rừng và phương án quản lý rừng bền vững nếu có.

Phạm vi đối chiếu tương đối rộng, bao gồm chỉ tiêu sử dụng mặt bằng xây dựng, vị trí, địa điểm, quy mô công trình, vật liệu, chiều cao, mật độ, tỷ lệ dự kiến, thời gian tồn tại của công trình và định hướng đấu nối hệ thống hạ tầng kỹ thuật, giao thông.

Điểm đáng chú ý là đối với loại dự án này, ngay cả thời gian tồn tại của công trình cũng thuộc nội dung cần đối chiếu. Điều đó phản ánh đặc thù của hoạt động đầu tư xây dựng gắn với môi trường rừng và các yêu cầu đã được xác định trong đề án chuyên ngành.

Sau việc đánh giá sự phù hợp với quy hoạch, cơ quan chuyên môn kiểm tra danh mục các văn bản thỏa thuận hoặc hướng dẫn kết nối với hệ thống hạ tầng kỹ thuật bên ngoài dự án.

Một dự án đầu tư xây dựng thường không vận hành hoàn toàn độc lập mà có quan hệ với các hệ thống hạ tầng bên ngoài. Vì vậy, các văn bản về kết nối là một bộ phận cần được kiểm tra để xác định những cơ sở liên quan đến việc đấu nối dự án với hạ tầng hiện hữu hoặc hạ tầng có liên quan.

Nội dung tiếp theo là việc tuân thủ quy chuẩn kỹ thuật và áp dụng tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật. Hoạt động thẩm định trước hết xem xét danh mục quy chuẩn kỹ thuật và tiêu chuẩn được áp dụng cho dự án.

Danh mục này xác định hệ thống căn cứ kỹ thuật mà thiết kế sử dụng. Tuy nhiên, việc có một danh mục quy chuẩn, tiêu chuẩn trong hồ sơ chưa phải là điểm kết thúc của hoạt động thẩm định.

Cơ quan thẩm định còn phải kiểm tra việc tuân thủ của các giải pháp thiết kế trong hồ sơ thiết kế xây dựng đối với những nội dung tương ứng của quy chuẩn kỹ thuật có yêu cầu phải áp dụng. Đây là bước chuyển từ kiểm tra danh mục sang kiểm tra giải pháp thực tế.

Có thể hiểu đơn giản rằng bước thứ nhất xác định dự án phải hoặc lựa chọn áp dụng những quy chuẩn, tiêu chuẩn nào; bước thứ hai kiểm tra giải pháp thiết kế có thực sự tuân thủ những yêu cầu bắt buộc tương ứng hay không. Cách tiếp cận này giúp tránh trường hợp hồ sơ chỉ liệt kê căn cứ kỹ thuật nhưng giải pháp thiết kế lại không phản ánh đúng yêu cầu.

Một nhóm nội dung quan trọng khác là đánh giá các yếu tố bảo đảm an toàn xây dựng và giải pháp thiết kế về phòng cháy, chữa cháy.

Đối với an toàn xây dựng, cơ quan thẩm định kiểm tra tính đầy đủ của các nội dung thiết kế xây dựng được quy định tại Điều 20, Điều 21 hoặc Điều 22 của Nghị định tương ứng với loại thiết kế được lập. Các nội dung này do nhà thầu tư vấn thiết kế đề xuất và được nhà thầu tư vấn thẩm tra xác nhận về việc bảo đảm an toàn xây dựng.

Việc kiểm tra đặt trọng tâm vào tính đầy đủ của các nội dung thuộc thiết kế và cơ sở xác nhận chuyên môn. Qua đó, các vấn đề liên quan đến an toàn xây dựng được đưa vào phạm vi xem xét của Báo cáo nghiên cứu khả thi ngay tại giai đoạn thẩm định.

Đối với phòng cháy và chữa cháy, phạm vi kiểm tra trước hết là tính đầy đủ của hồ sơ thiết kế xây dựng về việc thực hiện thiết kế phòng cháy, chữa cháy tương ứng với nội dung trong Báo cáo nghiên cứu khả thi theo pháp luật về phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ.

Sau đó, cơ quan thẩm định kiểm tra việc đáp ứng các yêu cầu và nội dung tương ứng về phòng cháy, chữa cháy do nhà thầu tư vấn thiết kế đề xuất và nhà thầu tư vấn thẩm tra xác nhận bảo đảm yêu cầu theo quy định pháp luật.

Như vậy, phòng cháy, chữa cháy không phải là nội dung tồn tại tách rời với thiết kế xây dựng mà phải được thể hiện tương ứng trong Báo cáo nghiên cứu khả thi và hồ sơ thiết kế. Cơ quan thẩm định kiểm tra cả tính đầy đủ của hồ sơ lẫn việc đáp ứng những yêu cầu tương ứng.

Đối với tổng mức đầu tư, nội dung thẩm định được xác định cụ thể đối với dự án đầu tư công và dự án PPP. Việc thẩm định tổng mức đầu tư của các dự án này được thực hiện theo quy định của Chính phủ về quản lý chi phí đầu tư xây dựng.

Điều này tạo sự liên kết giữa pháp luật về thẩm định dự án với hệ thống quy định chuyên môn về quản lý chi phí. Cơ quan thẩm định không tự xây dựng một phương pháp riêng ngoài hệ thống quản lý chi phí mà phải thực hiện theo những nguyên tắc và yêu cầu tương ứng của Chính phủ.

Sau khi hoàn thành quá trình xem xét các nội dung thuộc phạm vi thẩm định, cơ quan chuyên môn hoặc Hội đồng thẩm định phải hình thành kết quả thẩm định. Đây là sản phẩm chính thức của quá trình chuyên môn và là cơ sở để các chủ thể liên quan tiếp tục thực hiện các công việc tiếp theo.

Một yêu cầu quan trọng là kết quả thẩm định phải đánh giá mức độ đáp ứng đối với từng nội dung thẩm định. Như vậy, văn bản kết quả không chỉ được phép đưa ra một nhận xét chung cho toàn bộ dự án mà cần thể hiện đánh giá tương ứng với từng nhóm nội dung đã được cơ quan thẩm định xem xét.

Cách thể hiện này giúp cơ quan chuẩn bị dự án nhận diện rõ nội dung nào đã đáp ứng yêu cầu và nội dung nào còn phải tiếp tục xử lý. Đồng thời, nó tạo ra mối liên hệ trực tiếp giữa phạm vi thẩm định và kết quả thẩm định: nội dung nào thuộc phạm vi xem xét thì phải được phản ánh trong đánh giá.

Sau phần đánh giá chi tiết, kết quả thẩm định phải đưa ra kết luận cho toàn bộ các nội dung thẩm định. Kết luận này là sự tổng hợp của các đánh giá chuyên môn đã được thực hiện và là cơ sở quan trọng để xác định trạng thái của hồ sơ sau thẩm định.

Ngoài kết luận, kết quả thẩm định còn phải thể hiện các yêu cầu đối với cơ quan chuẩn bị dự án, người quyết định đầu tư và cơ quan có thẩm quyền đối với dự án PPP. Quy định này cho thấy kết quả thẩm định không chỉ mang tính ghi nhận mà còn định hướng những công việc tiếp theo mà các chủ thể có trách nhiệm phải xử lý.

Kết quả thẩm định được đồng thời gửi đến cơ quan quản lý xây dựng tại địa phương để biết và quản lý. Cơ chế gửi đồng thời giúp duy trì thông tin quản lý đối với dự án tại địa bàn, kể cả trong trường hợp cơ quan trực tiếp thực hiện thẩm định không phải là cơ quan quản lý xây dựng địa phương.

Văn bản thông báo kết quả thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi của cơ quan chuyên môn về xây dựng được lập theo Mẫu số 03 Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định. Việc sử dụng mẫu thống nhất giúp chuẩn hóa cấu trúc và nội dung cơ bản của văn bản kết quả.

Một vấn đề quan trọng khác phát sinh sau thẩm định là giá trị của kết quả trong trường hợp dự án thay đổi chủ thể. Quy định cho phép kế thừa kết quả thẩm định trong một số trường hợp, qua đó tránh việc lặp lại thủ tục khi bản thân dự án không phát sinh tình huống phải thẩm định lại theo quy định về điều chỉnh.

Cụ thể, trường hợp dự án đã được cơ quan chuyên môn về xây dựng thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi nhưng sau đó chủ đầu tư thực hiện chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ dự án thì tổ chức nhận chuyển nhượng được kế thừa kết quả thẩm định.

Nguyên tắc tương tự được áp dụng khi chủ đầu tư góp vốn bằng quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất. Tổ chức nhận góp vốn được kế thừa kết quả thẩm định đã có.

Trường hợp dự án có sự thay đổi về tổ chức do chia tách, sáp nhập hoặc hợp nhất, tổ chức được hình thành sau quá trình này cũng được kế thừa kết quả thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi của cơ quan chuyên môn về xây dựng.

Điểm chung của các trường hợp trên là sự thay đổi về chủ thể không tự động làm phát sinh nghĩa vụ phải thực hiện lại toàn bộ thủ tục thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi. Kết quả đã được cơ quan chuyên môn xác lập đối với dự án được tiếp tục sử dụng bởi chủ thể kế thừa.

Quy định này có ý nghĩa thực tế rõ rệt. Nếu mỗi lần chuyển nhượng dự án, góp vốn hoặc tái cấu trúc tổ chức đều phải thực hiện lại toàn bộ thủ tục thẩm định dù các nội dung của dự án không thay đổi thì có thể dẫn đến việc lặp lại một quá trình chuyên môn đã hoàn thành.

Tuy nhiên, quyền kế thừa kết quả không phải là tuyệt đối. Ngoại lệ được đặt ra khi dự án thuộc trường hợp điều chỉnh theo khoản 2 Điều 40 của Nghị định. Nếu việc chuyển nhượng, góp vốn, chia tách, sáp nhập, hợp nhất đi kèm với những thay đổi khiến dự án thuộc trường hợp phải thực hiện thủ tục điều chỉnh theo quy định thì cần xử lý theo cơ chế tương ứng.

Do đó, khi xảy ra thay đổi chủ thể, cần thực hiện hai bước nhận diện. Trước hết, xác định sự thay đổi có thuộc một trong các trường hợp được kế thừa kết quả hay không. Sau đó, kiểm tra dự án có đồng thời phát sinh trường hợp điều chỉnh thuộc khoản 2 Điều 40 hay không. Chỉ khi không thuộc ngoại lệ điều chỉnh thì nguyên tắc kế thừa kết quả thẩm định mới được áp dụng theo quy định này.

Nếu nhìn toàn bộ cơ chế dưới góc độ quản lý dự án, thời gian, nội dung và kết quả thẩm định tạo thành một chuỗi logic tương đối hoàn chỉnh. Hồ sơ hợp lệ xác lập thời điểm bắt đầu tính thời gian. Nhóm dự án và cấp công trình xác định giới hạn thời gian. Nội dung của hồ sơ được kiểm tra theo phạm vi thẩm định. Kết quả của từng nội dung được tổng hợp thành kết luận chung. Kết luận sau đó được sử dụng trong các bước tiếp theo và có thể được kế thừa khi thay đổi chủ thể nếu không phát sinh trường hợp phải điều chỉnh.

Cách tiếp cận này cũng giúp cơ quan chuẩn bị dự án chủ động hơn. Thay vì chỉ quan tâm đến câu hỏi cơ quan thẩm định sẽ mất bao nhiêu ngày để trả kết quả, việc chuẩn bị cần bắt đầu từ chính các nội dung sẽ được kiểm tra.

Nếu dự án sử dụng quy hoạch chi tiết đô thị và nông thôn, hồ sơ thiết kế cần được rà soát về chức năng sử dụng đất, quy mô dân số nếu có, diện tích, chỉ tiêu sử dụng đất, không gian và kiến trúc cảnh quan. Nếu dự án là công trình theo tuyến, cần kiểm tra vị trí, hướng tuyến, vùng tuyến và thông số kỹ thuật chủ yếu so với căn cứ đã được chấp thuận.

Nếu là dự án du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí trong rừng, thiết kế cần được đối chiếu với các chỉ tiêu, vị trí, quy mô, vật liệu, chiều cao, mật độ, tỷ lệ, thời gian tồn tại và định hướng kết nối hạ tầng đã được xác định trong đề án và phương án quản lý rừng bền vững nếu có.

Đối với quy chuẩn và tiêu chuẩn, cần bảo đảm danh mục được xác định rõ, đồng thời các giải pháp thiết kế thực sự đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật có yêu cầu bắt buộc. Đối với an toàn xây dựng và phòng cháy, chữa cháy, các nội dung thiết kế và kết quả thẩm tra cần được chuẩn bị đầy đủ theo phạm vi tương ứng.

Đối với dự án đầu tư công và dự án PPP, tổng mức đầu tư cần được chuẩn bị và xác định phù hợp với các quy định về quản lý chi phí đầu tư xây dựng để phục vụ nội dung thẩm định.

Việc chủ động rà soát theo đúng cấu trúc nội dung thẩm định có thể giúp giảm nguy cơ hồ sơ xuất hiện những điểm không thống nhất trong quá trình cơ quan chuyên môn xem xét. Điều này đặc biệt quan trọng bởi thời gian thẩm định chỉ là giới hạn xử lý của cơ quan thẩm định; chất lượng và sự đầy đủ của hồ sơ vẫn là trách nhiệm cần được bảo đảm từ phía chuẩn bị dự án.

Cũng cần phân biệt rõ giữa thời gian thẩm định và tổng thời gian thực tế để hoàn thành toàn bộ thủ tục. Thời gian thẩm định chính thức chỉ bắt đầu khi cơ quan thẩm định nhận đủ hồ sơ hợp lệ. Nếu trước đó hồ sơ chưa đầy đủ hoặc chưa hợp lệ thì khoảng thời gian hoàn thiện hồ sơ không nên được đồng nhất với thời gian thẩm định được quy định tại Điều này.

Tương tự, thời gian gia hạn cũng cần được hiểu đúng. Đây là thời gian bổ sung mà cơ quan thẩm định có thể sử dụng khi thực sự cần thiết và phải thực hiện theo đúng thủ tục thông báo. Gia hạn không phải cơ chế mặc nhiên áp dụng cho tất cả dự án và cũng không được thực hiện nhiều lần.

Xét về kết quả cuối cùng, một văn bản thẩm định có chất lượng phải thể hiện được mối quan hệ giữa nội dung đã xem xét và kết luận được đưa ra. Nếu quy hoạch là nội dung được thẩm định thì phải có đánh giá tương ứng về mức độ phù hợp với quy hoạch. Nếu quy chuẩn kỹ thuật, an toàn xây dựng hoặc phòng cháy, chữa cháy thuộc phạm vi xem xét thì kết quả cũng phải phản ánh mức độ đáp ứng của các nội dung đó.

Nguyên tắc đánh giá từng nội dung trước khi đưa ra kết luận tổng thể tạo ra tính minh bạch cho kết quả thẩm định. Cơ quan chuẩn bị dự án và người quyết định đầu tư có thể nhận diện cơ sở của kết luận thay vì chỉ nhận được một kết quả chung mà không biết từng nhóm nội dung được đánh giá như thế nào.

Đồng thời, việc xác định yêu cầu đối với cơ quan chuẩn bị dự án, người quyết định đầu tư và cơ quan có thẩm quyền đối với dự án PPP tạo ra sự tiếp nối giữa giai đoạn thẩm định và các bước tiếp theo. Kết quả thẩm định vì vậy không phải điểm kết thúc hoàn toàn của quá trình chuẩn bị dự án mà là một căn cứ để dự án tiếp tục được xử lý theo thẩm quyền.

Từ góc độ quản lý nhà nước, việc gửi kết quả cho cơ quan quản lý xây dựng tại địa phương giúp thông tin thẩm định không chỉ nằm tại cơ quan thực hiện thủ tục. Cơ quan địa phương có cơ sở biết và quản lý dự án thuộc phạm vi liên quan của mình.

Từ góc độ kế thừa pháp lý, quy định cho phép tổ chức nhận chuyển nhượng, nhận góp vốn hoặc tổ chức được hình thành sau chia tách, sáp nhập, hợp nhất tiếp tục sử dụng kết quả thẩm định cho thấy kết quả thẩm định trước hết gắn với những nội dung chuyên môn của dự án. Việc thay đổi chủ thể không tự động phủ nhận giá trị của quá trình chuyên môn đã được thực hiện.

Tuy nhiên, nếu dự án đồng thời thay đổi đến mức thuộc trường hợp phải điều chỉnh theo khoản 2 Điều 40 thì cơ chế điều chỉnh phải được áp dụng. Đây là giới hạn cần thiết để bảo đảm việc kế thừa kết quả không trở thành cách bỏ qua thẩm định đối với những thay đổi của chính dự án thuộc trường hợp pháp luật yêu cầu phải xem xét lại.

Tóm lại, thời gian, nội dung và kết quả thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi của cơ quan chuyên môn về xây dựng hoặc Hội đồng thẩm định tạo thành một cơ chế kiểm soát thống nhất từ thời điểm hồ sơ đủ điều kiện được đưa vào thẩm định cho đến khi kết quả được ban hành và sử dụng. Thời gian được tính từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ; dự án quan trọng quốc gia có thời gian thẩm định không quá 60 ngày; dự án nhóm A có công trình cấp I trở lên không quá 25 ngày làm việc và các dự án nhóm A còn lại không quá 20 ngày làm việc; dự án nhóm B tương ứng là 20 và 16 ngày làm việc; dự án nhóm C tương ứng là 15 và 12 ngày làm việc. Khi cần thiết, cơ quan thẩm định được gia hạn một lần, phải thông báo bằng văn bản, nêu rõ lý do và thời gian gia hạn, đồng thời thời gian gia hạn không vượt quá thời gian thẩm định tương ứng. Trong thời gian đó, cơ quan thẩm định thực hiện việc đánh giá sự phù hợp của thiết kế với quy hoạch theo từng loại dự án; kiểm tra các văn bản về kết nối hạ tầng kỹ thuật; xem xét danh mục quy chuẩn, tiêu chuẩn và việc tuân thủ quy chuẩn kỹ thuật; kiểm tra các nội dung về an toàn xây dựng, phòng cháy và chữa cháy; thẩm định tổng mức đầu tư đối với dự án đầu tư công và dự án PPP theo quy định về quản lý chi phí. Kết quả phải đánh giá mức độ đáp ứng của từng nội dung, đưa ra kết luận tổng thể và xác định yêu cầu đối với các chủ thể liên quan, đồng thời được gửi cơ quan quản lý xây dựng tại địa phương để biết và quản lý. Khi dự án chuyển nhượng, góp vốn bằng quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất, chia tách, sáp nhập hoặc hợp nhất, tổ chức kế thừa được sử dụng kết quả thẩm định đã có mà không phải thực hiện lại thủ tục, trừ trường hợp dự án phát sinh điều chỉnh thuộc khoản 2 Điều 40 của Nghị định. Qua đó, quy định vừa kiểm soát tiến độ, vừa xác định rõ phạm vi chuyên môn, vừa bảo đảm giá trị sử dụng và tính liên tục của kết quả thẩm định trong toàn bộ quá trình chuẩn bị và triển khai dự án đầu tư xây dựng.

CÔNG TY CỔ PHẦN TƯ VẤN ĐẦU TƯ & THIẾT KẾ XÂY DỰNG MINH PHƯƠNG 
Địa chỉ: 28B Mai Thị Lựu - Khu phố 7, Phường Tân Định, TP.HCM
Hotline: (028 22 142 126 - 0903 649 782 
Email: minhphuong.corp@yahoo.com.vn hoặc thanhnv93@yahoo.com.vn 
Website: www.minhphuongcorp.comwww.khoanngam.com;  www.lapduan.com;

 

 

Bình luận (0)

Gửi bình luận của bạn

Captcha