Thẩm quyền thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi
Ngày đăng: 22-09-2026
36 lượt xem
Bên cạnh các nguyên tắc chung về thẩm quyền thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi của cơ quan chuyên môn về xây dựng, pháp luật còn quy định một số trường hợp đặc thù nhằm xử lý những dự án có tính chất, phạm vi, chuyên ngành hoặc phương thức tổ chức đầu tư khác với thông thường. Đây là những quy định có ý nghĩa quan trọng bởi trong thực tế, một dự án có thể đồng thời liên quan đến nhiều chuyên ngành, được triển khai trên phạm vi nhiều địa phương, bao gồm nhiều loại và cấp công trình khác nhau, được chia thành các dự án thành phần hoặc được thực hiện theo từng giai đoạn. Nếu chỉ áp dụng máy móc nguyên tắc phân cấp thông thường thì có thể phát sinh khó khăn hoặc chồng chéo trong việc xác định cơ quan có thẩm quyền thẩm định. Vì vậy, các quy định đặc thù được thiết lập để xác định rõ cơ quan chịu trách nhiệm trong từng trường hợp và tạo sự thống nhất trong quá trình thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi.
Trước hết, đối với một số trường hợp cụ thể, thẩm quyền thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi của cơ quan chuyên môn về xây dựng không thực hiện theo cơ chế chung tại Điều 32 của Nghị định mà được xác định theo những nguyên tắc riêng. Điều này có nghĩa rằng khi dự án thuộc một trong các trường hợp đặc thù được liệt kê, cần ưu tiên áp dụng quy định riêng trước khi áp dụng các nguyên tắc phân cấp thông thường. Đây là điểm cần đặc biệt lưu ý khi xác định cơ quan tiếp nhận và tổ chức thẩm định hồ sơ.
Trường hợp đầu tiên liên quan đến dự án thuộc chuyên ngành quản lý mà bộ quản lý công trình xây dựng chuyên ngành đồng thời là cơ quan chủ quản theo pháp luật về đầu tư công hoặc là cơ quan có thẩm quyền theo pháp luật về đầu tư theo phương thức đối tác công tư. Đối với những dự án này, cơ quan chuyên môn về xây dựng trực thuộc chính bộ đó thực hiện việc thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi.
Quy định này tạo sự gắn kết giữa trách nhiệm của bộ trong vai trò cơ quan chủ quản hoặc cơ quan có thẩm quyền với trách nhiệm chuyên môn về xây dựng. Khi dự án thuộc chuyên ngành do bộ quản lý và bộ đồng thời giữ vai trò chủ quản theo pháp luật về đầu tư công hoặc cơ quan có thẩm quyền đối với dự án PPP, việc giao cơ quan chuyên môn về xây dựng trực thuộc bộ thực hiện thẩm định giúp bảo đảm sự thống nhất trong quá trình quản lý dự án.
Tuy nhiên, việc xác định thẩm quyền vẫn phải dựa trên điều kiện dự án thuộc chuyên ngành quản lý của bộ. Đây không phải là quy định cho phép một bộ thẩm định tất cả dự án mà mình có liên quan, mà là cơ chế gắn thẩm quyền thẩm định chuyên môn với phạm vi chuyên ngành và vai trò của bộ đối với dự án theo pháp luật về đầu tư công hoặc PPP.
Một trường hợp đặc thù tiếp theo là các dự án thuộc lĩnh vực hàng không, đường sắt quốc gia và hàng hải. Đối với những dự án này, cơ quan chuyên môn về xây dựng thuộc Bộ Xây dựng thực hiện thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi. Quy định xác định trực tiếp cơ quan có thẩm quyền theo lĩnh vực, qua đó tạo một đầu mối chuyên môn thống nhất đối với các dự án thuộc ba lĩnh vực nêu trên.
Đặc điểm của các dự án hàng không, đường sắt quốc gia và hàng hải là có thể liên quan đến hệ thống hạ tầng có phạm vi và yêu cầu kỹ thuật đặc thù. Việc xác định rõ cơ quan chuyên môn về xây dựng thuộc Bộ Xây dựng thực hiện thẩm định giúp tránh phải suy luận thẩm quyền từ các nguyên tắc chung trong từng trường hợp. Khi dự án thuộc một trong các lĩnh vực này, quy định đặc thù được áp dụng để xác định cơ quan thẩm định.
Đối với công trình thủy lợi và đê điều, thẩm quyền đặc thù được giao cho cơ quan chuyên môn về xây dựng thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường khi dự án có mục tiêu đầu tư và phạm vi khai thác, bảo vệ liên quan từ hai tỉnh trở lên. Hai yếu tố cần được xem xét ở đây là loại công trình và phạm vi ảnh hưởng của dự án.
Không phải mọi dự án thủy lợi hoặc đê điều đều mặc nhiên thuộc cơ quan chuyên môn về xây dựng thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường theo quy định đặc thù này. Điều kiện được đặt ra là mục tiêu đầu tư và phạm vi khai thác, bảo vệ phải liên quan từ hai tỉnh trở lên. Khi đáp ứng điều kiện đó, tính chất liên tỉnh của hoạt động khai thác và bảo vệ trở thành căn cứ để xác định thẩm quyền ở cấp bộ.
Quy định này phù hợp với đặc điểm của công trình thủy lợi, đê điều, bởi phạm vi phục vụ hoặc bảo vệ của công trình không phải lúc nào cũng trùng với địa giới hành chính nơi công trình được xây dựng. Một công trình có thể được bố trí tại một khu vực nhưng mục tiêu khai thác hoặc phạm vi bảo vệ lại liên quan đến nhiều tỉnh. Vì vậy, việc xác định thẩm quyền không chỉ dựa trên vị trí vật lý của công trình mà còn phải xem xét mục tiêu và phạm vi khai thác, bảo vệ.
Một trường hợp khác liên quan đến các công trình được xây dựng trên biển. Cơ quan chuyên môn về xây dựng thuộc Bộ Công Thương thực hiện thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi đối với dự án đầu tư xây dựng công trình theo chức năng quản lý của bộ, được xây dựng trên biển theo pháp luật về biển và pháp luật chuyên ngành, đồng thời nằm ngoài phạm vi quản lý của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
Quy định này kết hợp ba yếu tố để xác định thẩm quyền. Thứ nhất, dự án phải thuộc chức năng quản lý của Bộ Công Thương. Thứ hai, công trình được xây dựng trên biển theo các quy định pháp luật tương ứng. Thứ ba, vị trí công trình nằm ngoài phạm vi quản lý của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Khi các điều kiện này được đáp ứng, cơ quan chuyên môn về xây dựng thuộc Bộ Công Thương thực hiện việc thẩm định.
Cách quy định như vậy giúp xử lý những dự án mà việc xác định thẩm quyền theo địa giới hành chính thông thường không phù hợp. Đối với công trình trên biển nằm ngoài phạm vi quản lý của một tỉnh, việc giao cơ quan chuyên môn thuộc bộ quản lý chuyên ngành thực hiện thẩm định tạo ra đầu mối phù hợp với tính chất và vị trí của dự án.
Ở cấp địa phương, cơ quan chuyên môn về xây dựng thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được giao thẩm định đối với dự án mà Ủy ban nhân dân cấp tỉnh là cơ quan chủ quản theo pháp luật về đầu tư công hoặc là cơ quan có thẩm quyền theo pháp luật về đầu tư theo phương thức đối tác công tư. Tuy nhiên, quy định này đồng thời xác lập những trường hợp loại trừ.
Cụ thể, nếu dự án được Thủ tướng Chính phủ giao cho cơ quan chuyên môn thuộc bộ quản lý công trình xây dựng chuyên ngành thẩm định thì không thuộc thẩm quyền của cơ quan chuyên môn cấp tỉnh. Tương tự, các dự án thuộc lĩnh vực hàng không, đường sắt quốc gia, hàng hải; dự án thủy lợi, đê điều thuộc trường hợp đặc thù liên tỉnh; hoặc dự án thuộc thẩm quyền đặc thù của cơ quan chuyên môn về xây dựng thuộc Bộ Công Thương đối với công trình trên biển cũng không áp dụng cơ chế thẩm định của cơ quan chuyên môn cấp tỉnh tại quy định này.
Như vậy, việc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh là cơ quan chủ quản hoặc cơ quan có thẩm quyền đối với dự án là căn cứ quan trọng nhưng chưa phải điều kiện duy nhất. Trước khi xác định cơ quan chuyên môn thuộc tỉnh thực hiện thẩm định, vẫn phải kiểm tra dự án có thuộc một trong những trường hợp ngoại lệ được giao cho cơ quan chuyên môn thuộc bộ hay không.
Đối với thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, quy định thiết lập một cơ chế thẩm quyền riêng. Cơ quan chuyên môn về xây dựng thuộc Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội hoặc Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi đối với các dự án được đầu tư xây dựng trên địa bàn hành chính của mình, trừ những trường hợp được pháp luật xác định cụ thể.
Các trường hợp loại trừ bao gồm dự án có công trình cấp đặc biệt do người đứng đầu cơ quan trung ương quyết định đầu tư và các dự án thuộc những trường hợp đặc thù đã được giao cho cơ quan chuyên môn thuộc bộ tại các điểm a, b, c và d. Như vậy, đối với hai thành phố này, phạm vi thẩm quyền của cơ quan chuyên môn về xây dựng cấp thành phố được xác định tương đối rộng theo địa bàn nhưng vẫn phải nhường thẩm quyền cho các trường hợp ngoại lệ được quy định.
Khi áp dụng quy định này, cần thực hiện theo nguyên tắc kiểm tra ngoại lệ trước. Việc dự án nằm trên địa bàn Hà Nội hoặc Thành phố Hồ Chí Minh là căn cứ quan trọng để xác định thẩm quyền, nhưng nếu dự án đồng thời thuộc một trường hợp loại trừ thì cơ quan chuyên môn của thành phố không thực hiện thẩm định theo cơ chế này.
Đối với dự án đầu tư lấn biển hoặc dự án có hạng mục lấn biển, thẩm quyền thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi đối với phần lấn biển được xác định theo pháp luật về đất đai. Đây là một cơ chế dẫn chiếu sang pháp luật chuyên ngành khác nhằm bảo đảm nội dung có tính chất đặc thù được xử lý theo hệ thống quy định tương ứng.
Nếu một dự án ngoài hạng mục lấn biển còn có các hạng mục khác, thẩm quyền thẩm định đối với những hạng mục còn lại được thực hiện theo Nghị định. Điều đó có nghĩa trong cùng một dự án có thể xuất hiện cơ chế xác định thẩm quyền khác nhau giữa phần lấn biển và các hạng mục khác. Chủ đầu tư và cơ quan chuẩn bị dự án cần nhận diện rõ phạm vi từng phần để thực hiện đúng quy định.
Bên cạnh các trường hợp đặc thù về cơ quan thẩm định, đối với dự án quan trọng quốc gia và dự án do Quốc hội quyết định hoặc chấp thuận chủ trương đầu tư, bộ quản lý công trình xây dựng chuyên ngành hoặc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được thành lập Hội đồng thẩm định để thực hiện thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi.
Việc thành lập Hội đồng thẩm định tạo ra cơ chế tổ chức phù hợp đối với các dự án có tầm quan trọng lớn. Thay vì chỉ thực hiện theo mô hình một cơ quan chuyên môn thông thường, bộ hoặc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thể tổ chức Hội đồng để thực hiện nhiệm vụ thẩm định. Đây là cơ chế tổ chức thẩm định gắn với tính chất đặc biệt của dự án.
Một vấn đề thường gặp trong thực tế là dự án bao gồm nhiều công trình thuộc các loại và cấp khác nhau. Trong trường hợp này, nếu xác định thẩm quyền riêng theo từng công trình thì có thể dẫn đến một dự án phải trình nhiều cơ quan khác nhau, gây khó khăn cho việc đánh giá tổng thể. Vì vậy, quy định xác lập nguyên tắc xác định thẩm quyền dựa trên công trình chính của dự án.
Theo đó, nếu dự án gồm nhiều công trình có loại và cấp khác nhau, thẩm quyền thẩm định của cơ quan chuyên môn về xây dựng được xác định theo công trình chính. Trường hợp dự án có nhiều công trình chính thì căn cứ vào công trình chính có cấp cao nhất để xác định cơ quan có thẩm quyền.
Nguyên tắc này tạo ra một đầu mối thẩm định cho toàn bộ Báo cáo nghiên cứu khả thi. Công trình chính đóng vai trò làm căn cứ xác định thẩm quyền, còn các công trình khác trong dự án vẫn được xem xét trong tổng thể hồ sơ theo phạm vi cần thiết. Việc lấy công trình chính có cấp cao nhất làm căn cứ trong trường hợp có nhiều công trình chính cũng giúp giải quyết rõ tình huống có nhiều công trình quan trọng nhưng khác nhau về cấp.
Trường hợp dự án có nhiều công trình chính và các công trình chính này cùng một cấp, cơ quan chuẩn bị dự án được lựa chọn trình Báo cáo nghiên cứu khả thi đến cơ quan chuyên môn về xây dựng theo cấp của một trong các công trình chính. Quyền lựa chọn này giúp tránh tình trạng không thể xác định đầu mối khi các công trình chính có vị trí tương đương về cấp.
Tuy nhiên, việc lựa chọn một cơ quan làm đầu mối không có nghĩa các chuyên ngành của những công trình chính còn lại bị bỏ qua. Cơ quan thực hiện thẩm định có trách nhiệm lấy ý kiến thẩm định của cơ quan chuyên môn về xây dựng theo chuyên ngành đối với các công trình chính còn lại trong quá trình thẩm định.
Đây là cơ chế vừa bảo đảm một đầu mối xử lý hồ sơ, vừa duy trì yêu cầu xem xét chuyên môn theo từng loại công trình. Cơ quan chuẩn bị dự án không phải trình song song toàn bộ hồ sơ đến nhiều cơ quan để thực hiện những quy trình thẩm định độc lập; thay vào đó, cơ quan được lựa chọn làm đầu mối có trách nhiệm phối hợp và lấy ý kiến các cơ quan chuyên ngành còn lại.
Đối với dự án được chia thành các dự án thành phần độc lập, nguyên tắc xác định thẩm quyền lại được điều chỉnh theo đặc điểm của từng dự án thành phần. Thẩm quyền thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi của cơ quan chuyên môn về xây dựng được xác định theo nhóm của dự án thành phần và cấp của công trình thuộc dự án thành phần độc lập.
Điều này phù hợp với bản chất của dự án thành phần độc lập. Khi một phần của dự án có khả năng được tổ chức quản lý, thực hiện và khai thác theo tư cách một dự án độc lập theo quy định, việc xác định thẩm quyền thẩm định cũng được thực hiện dựa trên chính quy mô nhóm và công trình của dự án thành phần đó, thay vì mặc nhiên sử dụng quy mô của toàn bộ dự án ban đầu.
Do vậy, một dự án tổng thể có thể được chia thành nhiều dự án thành phần độc lập và các dự án thành phần có thể có đặc điểm khác nhau về nhóm hoặc cấp công trình. Khi đó, thẩm quyền thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi của từng dự án thành phần được xác định riêng trên cơ sở những tiêu chí tương ứng.
Đối với dự án đầu tư xây dựng khu đô thị hoặc khu chức năng được trình thẩm định theo các dự án thành phần độc lập, quy định đặt ra một yêu cầu bổ sung liên quan đến hạ tầng kỹ thuật dùng chung. Cơ quan chuẩn bị dự án phải trình cơ quan chuyên môn về xây dựng thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi của dự án thành phần có các công trình hạ tầng kỹ thuật dùng chung trước hoặc đồng thời với các dự án thành phần còn lại.
Yêu cầu này xuất phát từ vai trò của hệ thống hạ tầng kỹ thuật dùng chung đối với toàn bộ khu đô thị hoặc khu chức năng. Các dự án thành phần khác thường có quan hệ trực tiếp với hệ thống giao thông, cấp điện, cấp nước, thoát nước hoặc các hạ tầng dùng chung. Vì vậy, không phù hợp nếu các dự án thành phần riêng lẻ được thẩm định và triển khai mà chưa có cơ sở xem xét đối với phần hạ tầng kỹ thuật chung có chức năng kết nối toàn bộ dự án.
Việc cho phép trình dự án thành phần hạ tầng kỹ thuật dùng chung trước hoặc đồng thời với các dự án thành phần còn lại tạo sự linh hoạt nhưng vẫn bảo đảm thứ tự cần thiết. Điều quan trọng là phần hạ tầng chung không được trình sau theo cách làm mất cơ sở đánh giá tính đồng bộ của các dự án thành phần khác.
Khác với dự án thành phần độc lập, trường hợp dự án được phân chia thành các dự án thành phần nhưng các dự án thành phần đó không có tính độc lập hoặc dự án được trình thẩm định theo từng giai đoạn thì thẩm quyền không được xác định riêng theo từng phần. Trong trường hợp này, thẩm quyền thẩm định được xác định theo quy mô nhóm và cấp công trình của toàn bộ dự án.
Đây là sự phân biệt rất quan trọng. Việc chia dự án về mặt tổ chức, tiến độ hoặc hồ sơ không đồng nghĩa với việc từng phần trở thành một dự án độc lập để xác định lại thẩm quyền. Chỉ khi đáp ứng điều kiện là dự án thành phần độc lập thì mới xác định thẩm quyền theo nhóm và cấp công trình của chính dự án thành phần đó.
Nếu các phần chỉ được chia để thuận lợi cho việc triển khai hoặc dự án được trình thẩm định theo từng giai đoạn, quy mô của toàn bộ dự án vẫn là căn cứ xác định thẩm quyền. Nguyên tắc này hạn chế khả năng việc chia nhỏ dự án hoặc chia giai đoạn làm thay đổi cấp cơ quan có thẩm quyền thẩm định so với tính chất thực tế của toàn bộ dự án.
Có thể hiểu rằng pháp luật phân biệt rõ giữa việc “chia dự án thành phần độc lập” và việc “chia dự án để thực hiện hoặc thẩm định theo từng phần, từng giai đoạn”. Trong trường hợp thứ nhất, từng dự án thành phần có tính độc lập nên thẩm quyền có thể được xác định riêng. Trong trường hợp thứ hai, các phần vẫn thuộc một dự án thống nhất nên quy mô nhóm và cấp công trình của toàn bộ dự án tiếp tục là căn cứ xác định thẩm quyền.
Đối với dự án sửa chữa, cải tạo có yêu cầu phải được cơ quan chuyên môn về xây dựng thẩm định, thẩm quyền thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi được xác định theo quy mô của công trình sửa chữa, cải tạo. Đây là quy định phù hợp với đặc điểm của dự án loại này, bởi phạm vi đầu tư không nhất thiết tương ứng với quy mô toàn bộ công trình hiện hữu.
Khi công trình đã tồn tại và dự án chỉ thực hiện sửa chữa hoặc cải tạo một phạm vi nhất định, việc xác định thẩm quyền dựa trên quy mô của chính phần công trình được sửa chữa, cải tạo giúp phản ánh đúng nội dung đầu tư đang được xem xét. Vì vậy, cần xác định rõ phạm vi và quy mô của công việc sửa chữa, cải tạo để làm cơ sở xác định cơ quan thẩm định.
Tổng hợp các quy định trên cho thấy việc xác định thẩm quyền thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi trong những trường hợp đặc thù cần được thực hiện theo một trình tự logic. Trước tiên phải kiểm tra dự án có thuộc trường hợp được quy định riêng, không áp dụng cơ chế chung tại Điều 32 hay không. Nếu thuộc trường hợp đặc thù thì phải ưu tiên xác định cơ quan thẩm định theo quy định riêng tương ứng.
Đối với dự án thuộc chuyên ngành mà bộ quản lý công trình xây dựng chuyên ngành đồng thời là cơ quan chủ quản hoặc cơ quan có thẩm quyền đối với dự án PPP, cơ quan chuyên môn trực thuộc bộ thực hiện thẩm định. Đối với hàng không, đường sắt quốc gia và hàng hải, cơ quan chuyên môn về xây dựng thuộc Bộ Xây dựng thực hiện. Đối với công trình thủy lợi, đê điều có mục tiêu và phạm vi khai thác, bảo vệ liên quan từ hai tỉnh trở lên, thẩm quyền thuộc cơ quan chuyên môn về xây dựng thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Đối với công trình trên biển thuộc chức năng quản lý tương ứng và nằm ngoài phạm vi quản lý của cấp tỉnh, cơ quan chuyên môn về xây dựng thuộc Bộ Công Thương thực hiện thẩm định.
Đối với dự án mà Ủy ban nhân dân cấp tỉnh là cơ quan chủ quản hoặc cơ quan có thẩm quyền về PPP, cơ quan chuyên môn về xây dựng cấp tỉnh thực hiện thẩm định sau khi loại trừ các trường hợp đặc biệt thuộc thẩm quyền cấp bộ. Riêng Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, cơ quan chuyên môn về xây dựng của thành phố thực hiện thẩm định đối với các dự án trên địa bàn theo phạm vi được quy định, trừ những trường hợp ngoại lệ cụ thể. Đối với dự án lấn biển, phần lấn biển được xác định thẩm quyền theo pháp luật về đất đai, còn các hạng mục khác thực hiện theo Nghị định.
Sau khi giải quyết các trường hợp đặc thù về cơ quan thẩm định, nếu dự án có cấu trúc phức tạp thì tiếp tục áp dụng các nguyên tắc về công trình chính và dự án thành phần. Dự án có nhiều loại và cấp công trình được xác định thẩm quyền theo công trình chính; nếu có nhiều công trình chính thì căn cứ vào công trình chính có cấp cao nhất. Nếu nhiều công trình chính cùng cấp, cơ quan chuẩn bị dự án được lựa chọn một cơ quan phù hợp để trình thẩm định và cơ quan đó có trách nhiệm lấy ý kiến chuyên ngành đối với các công trình chính còn lại.
Nếu dự án được chia thành các dự án thành phần độc lập, từng dự án thành phần được xác định thẩm quyền theo nhóm và cấp công trình của chính dự án thành phần. Đối với khu đô thị, khu chức năng, dự án thành phần có hạ tầng kỹ thuật dùng chung phải được trình thẩm định trước hoặc đồng thời với các dự án thành phần khác. Ngược lại, nếu việc chia dự án không tạo thành các dự án thành phần độc lập hoặc dự án chỉ được trình theo từng giai đoạn thì thẩm quyền vẫn phải căn cứ vào quy mô nhóm và cấp công trình của toàn bộ dự án.
Nhìn tổng thể, các quy định đặc thù này được xây dựng để giải quyết những trường hợp mà nguyên tắc phân cấp thông thường chưa đủ để xác định rõ cơ quan thẩm định. Chúng đồng thời thiết lập các nguyên tắc ưu tiên, loại trừ và phối hợp giữa các cơ quan chuyên môn, qua đó hạn chế sự chồng chéo khi dự án liên quan đến nhiều chuyên ngành hoặc nhiều phạm vi quản lý.
Điểm quan trọng nhất khi áp dụng là phải xem xét dự án như một tổng thể trước khi xác định thẩm quyền. Không nên chỉ căn cứ vào địa điểm xây dựng, nguồn vốn, một công trình riêng lẻ hoặc tên gọi của dự án. Cần xác định chuyên ngành quản lý, cơ quan chủ quản hoặc cơ quan có thẩm quyền, phạm vi địa lý, cấp và loại công trình, cấu trúc dự án thành phần, tính độc lập của từng phần và hình thức trình thẩm định.
Đặc biệt, việc chia dự án thành nhiều phần không mặc nhiên làm thay đổi thẩm quyền. Chỉ khi đó là các dự án thành phần độc lập thì thẩm quyền mới được xác định theo từng dự án thành phần. Nếu chỉ chia thành phần không độc lập hoặc chia theo giai đoạn thì phải quay trở lại quy mô nhóm và cấp công trình của toàn bộ dự án. Đây là nguyên tắc có ý nghĩa quan trọng trong việc duy trì sự thống nhất của cơ chế thẩm định.
Tương tự, đối với dự án nhiều công trình, việc có nhiều loại công trình không dẫn đến việc mỗi công trình phải trải qua một quy trình thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi hoàn toàn riêng biệt. Công trình chính được sử dụng để xác định cơ quan đầu mối; trường hợp có nhiều công trình chính thì cấp công trình và cơ chế lấy ý kiến chuyên ngành giúp xử lý sự giao thoa giữa các lĩnh vực.
Như vậy, các quy định khác về thẩm quyền thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi của cơ quan chuyên môn về xây dựng tạo thành một hệ thống bổ sung cho nguyên tắc phân cấp chung. Hệ thống này xử lý từ những dự án thuộc chuyên ngành của các bộ, dự án hàng không, đường sắt quốc gia, hàng hải, thủy lợi, đê điều, công trình trên biển, dự án do địa phương làm cơ quan chủ quản, dự án trên địa bàn Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh cho đến dự án lấn biển, dự án nhiều loại công trình, dự án thành phần và dự án sửa chữa, cải tạo.
Thông qua các nguyên tắc này, thẩm quyền được gắn với đúng đặc điểm thực tế của dự án. Dự án có tính chất chuyên ngành đặc thù được giao cho cơ quan chuyên môn tương ứng; dự án nhiều công trình được xác định đầu mối theo công trình chính; dự án thành phần độc lập được xem xét theo quy mô của từng dự án thành phần; dự án phân chia không độc lập hoặc theo giai đoạn vẫn giữ thẩm quyền theo toàn bộ dự án; còn dự án sửa chữa, cải tạo được xác định theo quy mô công trình thực tế được sửa chữa, cải tạo.
Có thể thấy mục tiêu xuyên suốt của các quy định là vừa bảo đảm đúng chuyên ngành, đúng cấp quản lý, vừa duy trì một đầu mối rõ ràng trong quá trình thẩm định. Việc xác định đúng thẩm quyền ngay từ giai đoạn chuẩn bị dự án giúp chủ đầu tư và cơ quan chuẩn bị dự án tổ chức hồ sơ phù hợp, hạn chế việc trình sai cơ quan và tạo điều kiện để quá trình thẩm định được thực hiện thống nhất.
Tóm lại, khi xác định thẩm quyền thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi trong các trường hợp đặc thù, cần áp dụng theo hướng ưu tiên quy định riêng trước quy định chung, xác định rõ chuyên ngành và cơ quan quản lý, sau đó xem xét cấu trúc cụ thể của dự án. Đối với dự án nhiều công trình phải xác định công trình chính; đối với dự án có nhiều công trình chính phải xem xét cấp công trình; đối với dự án thành phần phải phân biệt rõ dự án thành phần độc lập với phần dự án không độc lập; đối với dự án trình theo giai đoạn phải căn cứ quy mô toàn bộ dự án; đối với dự án sửa chữa, cải tạo phải căn cứ quy mô công trình được sửa chữa, cải tạo. Việc áp dụng đồng bộ các nguyên tắc này giúp hình thành một cơ chế phân định thẩm quyền rõ ràng, phù hợp với tính chất đa dạng của dự án đầu tư xây dựng và bảo đảm Báo cáo nghiên cứu khả thi được trình đúng cơ quan chuyên môn có trách nhiệm thẩm định.
CÔNG TY CỔ PHẦN TƯ VẤN ĐẦU TƯ & THIẾT KẾ XÂY DỰNG MINH PHƯƠNG
Địa chỉ: 28B Mai Thị Lựu - Khu phố 7, Phường Tân Định, TP.HCM
Hotline: (028 22 142 126 - 0903 649 782
Email: minhphuong.corp@yahoo.com.vn hoặc thanhnv93@yahoo.com.vn
Website: www.minhphuongcorp.com: www.khoanngam.com; www.lapduan.com;
Gửi bình luận của bạn