Trình tự đầu tư xây dựng dự án theo quy định
Ngày đăng: 23-09-2026
47 lượt xem
Trình tự đầu tư xây dựng dự án theo quy định
Trình tự đầu tư xây dựng là hệ thống các giai đoạn và công việc được tổ chức xuyên suốt từ khi hình thành, chuẩn bị dự án cho đến khi công trình hoàn thành, được bàn giao đưa vào sử dụng và thực hiện các công việc kết thúc có liên quan. Theo khoản 1 Điều 16 Luật Xây dựng năm 2025 và quy định cụ thể tại nội dung này, quá trình đầu tư xây dựng được cấu trúc thành ba giai đoạn cơ bản gồm giai đoạn chuẩn bị dự án, giai đoạn thực hiện dự án và giai đoạn kết thúc xây dựng. Mỗi giai đoạn có những nhóm công việc riêng nhưng không nên hiểu ba giai đoạn là ba khối thủ tục hoàn toàn tách biệt. Toàn bộ quá trình cần được nhìn nhận như một chuỗi liên tục, trong đó kết quả của công việc trước có thể trở thành căn cứ để triển khai công việc tiếp theo. Đồng thời, pháp luật cũng không áp dụng một trình tự cứng nhắc cho mọi loại dự án. Đối với dự án, công trình khẩn cấp, cấp bách, công trình tạm, dự án đầu tư công đặc biệt, dự án PPP và dự án thực hiện theo hình thức hợp đồng chìa khóa trao tay, trình tự được xác định theo những cơ chế riêng. Đối với các dự án còn lại, tùy điều kiện cụ thể và yêu cầu kỹ thuật, người quyết định đầu tư có thể quyết định các công việc thuộc giai đoạn thực hiện dự án và kết thúc xây dựng được triển khai tuần tự hoặc đồng thời, nhưng phải phù hợp với nội dung của quyết định phê duyệt dự án.
Giai đoạn đầu tiên là chuẩn bị dự án. Đây là giai đoạn hình thành và hoàn thiện các căn cứ cần thiết để dự án có thể được xem xét, phê duyệt và chuyển sang tổ chức thực hiện.
Một trong những công việc thuộc giai đoạn này là lập, thẩm định Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng hoặc Báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư nếu có.
Cụm từ “nếu có” cho thấy không phải mọi dự án đều mặc nhiên phải thực hiện cả Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi hoặc Báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư. Việc phát sinh các tài liệu này phụ thuộc vào trường hợp dự án và quy định tương ứng.
Vì vậy, khi xây dựng kế hoạch chuẩn bị dự án, bước đầu tiên cần xác định dự án có thuộc trường hợp phải thực hiện thủ tục liên quan đến Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi hoặc Báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư hay không.
Nếu có, việc lập và thẩm định được tổ chức trong giai đoạn chuẩn bị dự án.
Đối với chương trình, dự án sử dụng vốn hỗ trợ phát triển chính thức, tức vốn ODA, hoặc vốn vay ưu đãi nước ngoài, giai đoạn chuẩn bị còn có công việc lập đề xuất chương trình, dự án nếu có.
Điều này cho thấy nguồn vốn của dự án có thể làm phát sinh thêm những công việc chuẩn bị tương ứng.
Do đó, trình tự đầu tư xây dựng không chỉ được xác định dựa trên loại công trình mà còn phải đặt trong mối quan hệ với nguồn vốn và cơ chế đầu tư của dự án.
Một công việc khác thuộc giai đoạn chuẩn bị là lập, thẩm định và phê duyệt quy hoạch làm căn cứ lập dự án nếu có.
Quy hoạch trong trường hợp này đóng vai trò là một trong những căn cứ phục vụ việc lập dự án khi dự án thuộc trường hợp cần có quy hoạch tương ứng.
Việc quy định “nếu có” tiếp tục thể hiện nguyên tắc không phải mọi dự án đều phát sinh một quy trình lập, thẩm định, phê duyệt quy hoạch mới trong chính giai đoạn chuẩn bị dự án.
Cần xác định trường hợp cụ thể để tổ chức công việc phù hợp.
Sau các công việc về chủ trương, nguồn vốn và quy hoạch là khảo sát xây dựng phục vụ lập dự án.
Khảo sát xây dựng cung cấp những thông tin cần thiết phục vụ quá trình nghiên cứu và thiết kế ở bước lập dự án.
Điểm cần lưu ý là khảo sát ở giai đoạn này được xác định với mục đích “phục vụ lập dự án”.
Nó cần được phân biệt với khảo sát xây dựng phục vụ thiết kế xây dựng triển khai sau khi dự án được phê duyệt, bởi công việc khảo sát thứ hai được xếp vào giai đoạn thực hiện dự án.
Sự phân biệt này rất quan trọng trong quản lý trình tự.
Cùng là hoạt động khảo sát xây dựng nhưng mục đích và thời điểm thực hiện có thể khác nhau. Khảo sát phục vụ lập dự án nằm ở giai đoạn chuẩn bị; khảo sát phục vụ thiết kế triển khai sau khi dự án được phê duyệt nằm ở giai đoạn thực hiện.
Sau khi có những căn cứ cần thiết, dự án bước vào quá trình lập và thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng.
Đây là một trong những công việc trọng tâm của giai đoạn chuẩn bị.
Việc sử dụng Báo cáo nghiên cứu khả thi hay Báo cáo kinh tế - kỹ thuật phụ thuộc vào trường hợp dự án theo quy định tương ứng.
Vì vậy, trước khi lập hồ sơ cần xác định đúng loại báo cáo được áp dụng.
Không nên hiểu Báo cáo nghiên cứu khả thi và Báo cáo kinh tế - kỹ thuật là hai tài liệu phải đồng thời lập cho cùng một dự án theo quy định này.
Sau quá trình lập, thẩm định báo cáo tương ứng là phê duyệt dự án và quyết định đầu tư xây dựng.
Đây có thể xem là một mốc chuyển tiếp quan trọng trong vòng đời dự án.
Trước mốc này, các công việc chủ yếu hướng đến việc chuẩn bị căn cứ, nghiên cứu và hoàn thiện hồ sơ để dự án được xem xét.
Sau khi dự án được phê duyệt, một loạt hoạt động thuộc giai đoạn thực hiện dự án có thể được triển khai theo trình tự tương ứng.
Tuy nhiên, danh mục công việc của giai đoạn chuẩn bị không chỉ gồm các hoạt động nghiên cứu và phê duyệt.
Quy định còn đưa tạm ứng, thanh toán khối lượng hoàn thành vào giai đoạn chuẩn bị dự án.
Điều này cho thấy trong quá trình chuẩn bị vẫn có thể phát sinh các hợp đồng, khối lượng công việc và nghĩa vụ thanh toán tương ứng.
Do đó, không nên mặc định rằng tạm ứng và thanh toán chỉ xuất hiện khi công trình đã bước vào thi công.
Ngoài ra, giai đoạn chuẩn bị còn bao gồm các công việc được cho phép thực hiện trước theo quy định của pháp luật và các công việc cần thiết khác liên quan đến chuẩn bị dự án.
Cụm từ “được cho phép thực hiện trước theo quy định của pháp luật” cần được hiểu theo đúng giới hạn của nó.
Không phải vì một công việc có lợi cho tiến độ mà chủ đầu tư có thể tự động đưa công việc đó lên thực hiện trước.
Việc thực hiện trước phải có căn cứ theo quy định pháp luật tương ứng.
Đây là điểm cần phân biệt giữa tối ưu tiến độ dự án và tự ý đảo trình tự pháp lý.
Sau giai đoạn chuẩn bị là giai đoạn thực hiện dự án.
Nếu giai đoạn chuẩn bị tập trung vào việc hình thành căn cứ đầu tư thì giai đoạn thực hiện tập trung vào việc chuyển dự án đã được phê duyệt thành công trình cụ thể.
Một trong những công việc đầu tiên được liệt kê là chuẩn bị mặt bằng xây dựng và rà phá bom mìn nếu có.
Mặt bằng là điều kiện thực tế quan trọng để tổ chức thi công. Rà phá bom mìn chỉ phát sinh trong trường hợp có, vì vậy không phải dự án nào cũng có công việc này.
Tiếp theo là khảo sát xây dựng phục vụ thiết kế xây dựng triển khai sau khi dự án được phê duyệt.
Như đã phân tích, đây là hoạt động khảo sát cần được phân biệt với khảo sát phục vụ lập dự án ở giai đoạn chuẩn bị.
Việc phân biệt theo mục đích giúp quản lý chính xác nhiệm vụ khảo sát, kết quả khảo sát và mối quan hệ của kết quả đó với bước thiết kế tương ứng.
Sau khảo sát là lập, thẩm định và phê duyệt thiết kế xây dựng triển khai sau khi dự án được phê duyệt và dự toán xây dựng.
Đây là nhóm công việc kỹ thuật quan trọng trước và trong quá trình tổ chức xây dựng.
Thiết kế triển khai sau khi dự án được phê duyệt phải được tổ chức theo bước thiết kế tương ứng của dự án và được thẩm định, phê duyệt theo quy định.
Dự toán xây dựng cũng được thực hiện trong nhóm công việc này.
Tiếp theo là cấp giấy phép xây dựng đối với công trình theo quy định phải có giấy phép xây dựng.
Điều kiện “đối với công trình theo quy định phải có giấy phép xây dựng” cần được giữ nguyên khi xây dựng trình tự.
Không phải mọi công trình đều mặc nhiên phải trải qua thủ tục cấp giấy phép.
Trước khi đưa giấy phép xây dựng thành một mốc bắt buộc của tiến độ, cần xác định công trình có thuộc trường hợp phải có giấy phép theo quy định hay không.
Nếu thuộc trường hợp phải có giấy phép thì thủ tục cấp phép trở thành một công việc trong giai đoạn thực hiện dự án.
Sau đó là ký kết hợp đồng xây dựng.
Hợp đồng là cơ sở pháp lý quan trọng để tổ chức thực hiện các công việc xây dựng giữa các chủ thể có liên quan.
Tiếp theo là thi công xây dựng công trình và giám sát thi công xây dựng.
Hai hoạt động này có quan hệ chặt chẽ với nhau. Thi công biến hồ sơ thiết kế thành công trình thực tế, còn giám sát thi công được tổ chức trong quá trình xây dựng theo quy định tương ứng.
Trong giai đoạn thực hiện tiếp tục có tạm ứng và thanh toán khối lượng hoàn thành.
Việc tạm ứng, thanh toán xuất hiện cả ở giai đoạn chuẩn bị và giai đoạn thực hiện cho thấy đây là hoạt động tài chính gắn với các khối lượng công việc phát sinh trong từng giai đoạn chứ không phải một mốc chỉ xuất hiện một lần trong vòng đời dự án.
Khi công trình đã đạt đến trạng thái tương ứng, quá trình vận hành và chạy thử được thực hiện.
Vận hành, chạy thử có ý nghĩa kiểm tra hoạt động của công trình, thiết bị hoặc hệ thống trước khi chuyển sang trạng thái khai thác chính thức theo trường hợp tương ứng.
Sau đó là nghiệm thu hoàn thành công trình xây dựng.
Nghiệm thu hoàn thành là một mốc quan trọng để xác nhận công trình đã hoàn thành theo phạm vi tương ứng trước khi bàn giao đưa vào sử dụng.
Tiếp theo là bàn giao công trình đưa vào sử dụng.
Đây là điểm chuyển tiếp từ quá trình xây dựng sang giai đoạn khai thác, quản lý và vận hành công trình.
Tuy nhiên, bàn giao đưa vào sử dụng không đồng nghĩa mọi nghĩa vụ của dự án đã kết thúc.
Quy định còn xác định quyết toán hợp đồng xây dựng trong giai đoạn thực hiện dự án và các công việc cần thiết khác liên quan đến thực hiện dự án.
Điểm này cần được đọc cùng với giai đoạn kết thúc xây dựng, bởi quyết toán hợp đồng xây dựng cũng được nhắc lại tại giai đoạn kết thúc với điều kiện “nếu có”.
Như vậy, không nên xây dựng một sơ đồ máy móc cho rằng quyết toán hợp đồng chỉ được phép xuất hiện tại duy nhất một thời điểm.
Việc tổ chức quyết toán cần căn cứ tình trạng thực hiện hợp đồng và dự án tương ứng.
Sau giai đoạn thực hiện là giai đoạn kết thúc xây dựng.
Các công việc của giai đoạn này tập trung vào hoàn tất nghĩa vụ tài chính, nghĩa vụ hợp đồng, bảo hành và bàn giao hồ sơ.
Trước hết là quyết toán hợp đồng xây dựng nếu có và quyết toán vốn đầu tư xây dựng.
Quyết toán hợp đồng tập trung vào quan hệ hợp đồng giữa các bên, trong khi quyết toán vốn đầu tư xây dựng gắn với việc tổng hợp và xác định giá trị vốn đầu tư theo quy định tương ứng.
Hai nội dung có liên quan nhưng không nên đồng nhất.
Tiếp theo là bảo hành công trình xây dựng.
Bảo hành cho thấy trách nhiệm đối với công trình tiếp tục tồn tại sau thời điểm nghiệm thu và bàn giao đưa vào sử dụng.
Do đó, vòng đời quản lý dự án không kết thúc ngay tại thời điểm công trình được đưa vào khai thác.
Giai đoạn kết thúc còn có việc bàn giao các hồ sơ liên quan.
Hồ sơ hình thành trong quá trình chuẩn bị, thiết kế, thi công, nghiệm thu và hoàn thành công trình có ý nghĩa đối với việc quản lý, vận hành và các hoạt động tiếp theo.
Việc bàn giao hồ sơ vì vậy là một phần của quá trình kết thúc xây dựng.
Ngoài các công việc được liệt kê, giai đoạn này còn bao gồm những công việc cần thiết khác liên quan đến dự án.
Nếu hệ thống ba giai đoạn theo mục tiêu quản lý, có thể hiểu giai đoạn chuẩn bị trả lời câu hỏi “dự án có cơ sở để được quyết định đầu tư và triển khai hay chưa”; giai đoạn thực hiện trả lời câu hỏi “dự án được chuyển thành công trình như thế nào”; còn giai đoạn kết thúc trả lời câu hỏi “các nghĩa vụ còn lại sau xây dựng được hoàn tất như thế nào”.
Tuy nhiên, mô hình ba giai đoạn này không được áp dụng một cách cứng nhắc cho mọi trường hợp.
Đối với dự án, công trình khẩn cấp, cấp bách, công trình tạm và dự án đầu tư công đặc biệt, trình tự được thực hiện theo các Điều 69, 70, 71 và 72 của Nghị định.
Các nội dung khác vẫn thực hiện theo Nghị định và pháp luật có liên quan.
Quy định này thể hiện cơ chế chuyên biệt dành cho những dự án hoặc công trình có tính chất đặc thù.
Do đó, khi xác định một dự án thuộc nhóm này, không nên lấy toàn bộ trình tự thông thường tại khoản 1 rồi áp dụng nguyên trạng.
Cần chuyển sang điều khoản chuyên biệt tương ứng để xác định trình tự, sau đó áp dụng các nội dung khác của Nghị định và pháp luật có liên quan trong phạm vi phù hợp.
Đối với dự án PPP, trình tự đầu tư xây dựng được thực hiện theo pháp luật về đầu tư theo phương thức đối tác công tư.
Đây tiếp tục là một cơ chế dẫn chiếu sang hệ thống pháp luật chuyên ngành.
Vì vậy, khi dự án được thực hiện theo phương thức PPP, trình tự đầu tư không được xác định chỉ bằng cách áp dụng khoản 1 của điều này mà phải căn cứ pháp luật về PPP.
Đối với dự án thực hiện theo hình thức hợp đồng chìa khóa trao tay, trình tự đầu tư xây dựng được thực hiện phù hợp với chủ trương đầu tư nếu có và nội dung quy định của hợp đồng.
Đặc điểm của trường hợp này là hợp đồng trở thành một căn cứ trực tiếp trong việc tổ chức trình tự thực hiện.
Tuy nhiên, trình tự không chỉ phụ thuộc hợp đồng mà còn phải phù hợp với chủ trương đầu tư nếu có.
Do đó, khi xây dựng tiến độ cho dự án chìa khóa trao tay cần kiểm tra đồng thời các căn cứ này.
Đối với những dự án không thuộc các trường hợp đặc thù tại khoản 2, khoản 3 và khoản 4, quy định mở ra khả năng tổ chức linh hoạt hơn.
Tùy thuộc điều kiện cụ thể và yêu cầu kỹ thuật của dự án, người quyết định đầu tư quyết định trình tự thực hiện tuần tự hoặc đồng thời đối với các công việc tại điểm b và điểm c khoản 1, tức các công việc thuộc giai đoạn thực hiện dự án và giai đoạn kết thúc xây dựng.
Đây là một quy định rất quan trọng về tổ chức tiến độ.
Nó cho phép không phải mọi công việc đều buộc phải xếp thành một đường thẳng tuyệt đối, trong đó công việc trước hoàn thành toàn bộ rồi công việc sau mới được bắt đầu.
Trong điều kiện phù hợp, một số công việc có thể được tổ chức đồng thời.
Tuy nhiên, quyền tổ chức đồng thời không phải quyền bỏ qua các điều kiện pháp lý hoặc quan hệ phụ thuộc cần thiết giữa các công việc.
Quy định đặt ra ba giới hạn rõ ràng.
Thứ nhất, việc lựa chọn phải căn cứ điều kiện cụ thể của dự án.
Thứ hai, phải xem xét yêu cầu kỹ thuật.
Thứ ba, trình tự được quyết định phải phù hợp với các nội dung tại quyết định phê duyệt dự án.
Vì vậy, “thực hiện đồng thời” nên được hiểu là tối ưu cách tổ chức các công việc trong phạm vi pháp luật và điều kiện kỹ thuật cho phép, không phải hợp thức hóa việc triển khai một công việc khi căn cứ bắt buộc của công việc đó chưa được đáp ứng.
Chẳng hạn, việc nhiều hoạt động có thể diễn ra song song về mặt tiến độ không làm mất yêu cầu công trình thuộc trường hợp phải có giấy phép xây dựng phải thực hiện thủ tục cấp giấy phép theo quy định.
Tương tự, một công việc cần dựa trên thiết kế đã được thực hiện theo trình tự tương ứng thì việc tổ chức đồng thời không có nghĩa được bỏ qua căn cứ thiết kế cần thiết.
Do đó, khi người quyết định đầu tư lựa chọn trình tự tuần tự hoặc đồng thời, cần phân biệt hai khái niệm: “các công việc có thể chồng lấn về thời gian” và “các điều kiện tiên quyết có thể bị bỏ qua”. Quy định cho phép vấn đề thứ nhất trong điều kiện phù hợp, nhưng nội dung được cung cấp không tạo ra cơ sở để hiểu rằng vấn đề thứ hai cũng được cho phép.
Một cách tiếp cận thực tế là trước tiên lập danh sách toàn bộ công việc thuộc giai đoạn thực hiện và kết thúc xây dựng.
Sau đó xác định quan hệ phụ thuộc giữa các công việc.
Công việc nào bắt buộc phải có kết quả của công việc trước mới có thể thực hiện thì giữ quan hệ tuần tự.
Công việc nào có thể thực hiện song song mà vẫn đáp ứng điều kiện pháp lý, kỹ thuật và phù hợp quyết định phê duyệt dự án thì có thể xem xét tổ chức đồng thời.
Cách tiếp cận này giúp khai thác tính linh hoạt của quy định mà không làm mất tính kiểm soát.
Nếu nhìn toàn bộ trình tự đầu tư xây dựng như một chuỗi quản trị, có thể bắt đầu từ việc xác định dự án có thuộc trường hợp đặc thù hay không.
Nếu là dự án, công trình khẩn cấp, cấp bách, công trình tạm hoặc dự án đầu tư công đặc biệt thì chuyển sang các Điều 69 đến 72.
Nếu là PPP thì áp dụng pháp luật về đầu tư theo phương thức đối tác công tư.
Nếu thực hiện theo hợp đồng chìa khóa trao tay thì tổ chức trình tự phù hợp với chủ trương đầu tư nếu có và nội dung hợp đồng.
Nếu không thuộc các nhóm trên thì áp dụng trình tự ba giai đoạn và người quyết định đầu tư có thể quyết định việc thực hiện tuần tự hoặc đồng thời đối với các công việc thuộc giai đoạn thực hiện và kết thúc trên cơ sở điều kiện cụ thể, yêu cầu kỹ thuật và quyết định phê duyệt dự án.
Sau khi xác định đúng “nhánh” pháp lý của dự án, mới xây dựng tiến độ chi tiết.
Đối với dự án thông thường, chuỗi cơ bản có thể hình dung là: nghiên cứu chủ trương nếu có → xử lý yêu cầu về ODA, vốn vay ưu đãi nếu có → quy hoạch nếu có → khảo sát phục vụ lập dự án → lập và thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật → phê duyệt dự án, quyết định đầu tư → chuẩn bị mặt bằng và các công việc cần thiết → khảo sát phục vụ thiết kế sau phê duyệt → thiết kế, thẩm định, phê duyệt thiết kế và dự toán → giấy phép xây dựng nếu thuộc trường hợp phải có → hợp đồng xây dựng → thi công và giám sát → vận hành, chạy thử → nghiệm thu hoàn thành → bàn giao đưa vào sử dụng → quyết toán → bảo hành và bàn giao hồ sơ.
Tuy nhiên, đây là cách hệ thống hóa để nhận diện vòng đời dự án, không nên biến thành một sơ đồ cứng cho rằng tất cả dự án bắt buộc từng bước phải hoàn thành tuyệt đối theo đúng thứ tự liệt kê. Chính khoản 5 đã cho phép người quyết định đầu tư quyết định thực hiện tuần tự hoặc đồng thời đối với các công việc thuộc điểm b và điểm c trong những dự án đủ điều kiện áp dụng.
Điểm quan trọng nhất là phải duy trì các “điểm kiểm soát” của dự án.
Một công việc được thực hiện sớm hoặc đồng thời phải có căn cứ cho phép.
Một thủ tục chỉ phát sinh “nếu có” hoặc đối với công trình thuộc trường hợp phải thực hiện thì cần nhận diện đúng điều kiện.
Một công việc có quan hệ phụ thuộc kỹ thuật với công việc khác phải được tổ chức phù hợp.
Quyết định phê duyệt dự án là một trong những căn cứ quan trọng để kiểm soát trình tự.
Như vậy, tối ưu tiến độ không đồng nghĩa giảm bớt trách nhiệm pháp lý; ngược lại, khi nhiều công việc được thực hiện đồng thời thì yêu cầu phối hợp và kiểm soát càng cao.
Tóm lại, trình tự đầu tư xây dựng theo quy định được cấu trúc thành ba giai đoạn chính. Giai đoạn chuẩn bị dự án bao gồm việc lập, thẩm định Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi hoặc Báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư nếu có; đề xuất chương trình, dự án ODA hoặc vốn vay ưu đãi nước ngoài nếu có; công tác quy hoạch nếu có; khảo sát phục vụ lập dự án; lập, thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật; phê duyệt dự án, quyết định đầu tư; tạm ứng, thanh toán và những công việc được phép thực hiện trước hoặc cần thiết khác. Giai đoạn thực hiện bao gồm chuẩn bị mặt bằng, rà phá bom mìn nếu có; khảo sát phục vụ thiết kế sau khi dự án được phê duyệt; lập, thẩm định, phê duyệt thiết kế và dự toán; cấp giấy phép xây dựng nếu công trình phải có giấy phép; ký hợp đồng; thi công, giám sát; tạm ứng, thanh toán; vận hành, chạy thử; nghiệm thu; bàn giao; quyết toán hợp đồng và các công việc liên quan. Giai đoạn kết thúc gồm quyết toán hợp đồng nếu có, quyết toán vốn đầu tư, bảo hành, bàn giao hồ sơ và các công việc cần thiết khác. Đối với dự án, công trình khẩn cấp, cấp bách, công trình tạm và dự án đầu tư công đặc biệt, áp dụng các Điều 69 đến 72 cùng các quy định liên quan. Dự án PPP thực hiện theo pháp luật về đầu tư theo phương thức đối tác công tư. Dự án theo hợp đồng chìa khóa trao tay thực hiện phù hợp với chủ trương đầu tư nếu có và nội dung hợp đồng. Đối với các dự án còn lại, người quyết định đầu tư có thể quyết định thực hiện tuần tự hoặc đồng thời các công việc thuộc giai đoạn thực hiện và kết thúc xây dựng tùy điều kiện cụ thể và yêu cầu kỹ thuật, nhưng phải phù hợp với quyết định phê duyệt dự án. Vì vậy, bản chất của trình tự đầu tư xây dựng không phải là một danh sách thủ tục cứng nhắc mà là một chuỗi quản lý có cấu trúc, trong đó tính linh hoạt về tiến độ phải luôn đi cùng việc bảo đảm căn cứ pháp lý, điều kiện kỹ thuật và sự thống nhất với quyết định đầu tư của dự án.
CÔNG TY CỔ PHẦN TƯ VẤN ĐẦU TƯ & THIẾT KẾ XÂY DỰNG MINH PHƯƠNG
Địa chỉ: 28B Mai Thị Lựu - Khu phố 7, Phường Tân Định, TP.HCM
Hotline: (028 22 142 126 - 0903 649 782
Email: minhphuong.corp@yahoo.com.vn hoặc thanhnv93@yahoo.com.vn
Website: www.minhphuongcorp.com: www.khoanngam.com; www.lapduan.com;
Gửi bình luận của bạn