Hội đồng thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi

Hội đồng thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi

Ngày đăng: 22-09-2026

44 lượt xem

Hội đồng thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi là một cơ chế tổ chức thẩm định được áp dụng đối với những dự án thuộc trường hợp pháp luật quy định, nhằm thực hiện vai trò thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi của cơ quan chuyên môn về xây dựng. Khác với cơ chế thẩm định thông thường do một cơ quan chuyên môn trực tiếp chủ trì, Hội đồng thẩm định được tổ chức theo mô hình tập thể, có sự tham gia của lãnh đạo cơ quan nhà nước, các cơ quan chuyên môn, đại diện bộ, ngành có liên quan và, trong trường hợp cần thiết, các tổ chức tư vấn hoặc chuyên gia phù hợp với tính chất của dự án. Việc tổ chức Hội đồng giúp tập hợp nhiều lĩnh vực chuyên môn trong cùng một quá trình xem xét, qua đó tạo cơ sở để đánh giá Báo cáo nghiên cứu khả thi một cách có hệ thống trước khi ban hành kết quả thẩm định.

Theo quy định, Hội đồng thẩm định do Bộ trưởng bộ quản lý công trình xây dựng chuyên ngành hoặc Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thành lập đối với các dự án thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 33 của Nghị định. Hội đồng được thành lập để thực hiện vai trò thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi của cơ quan chuyên môn về xây dựng. Như vậy, Hội đồng không phải là một tổ chức thường trực được thành lập để xử lý mọi dự án, mà được hình thành gắn với dự án thuộc trường hợp cụ thể và thực hiện nhiệm vụ thẩm định theo phạm vi được giao.

Cơ chế này có ý nghĩa đặc biệt đối với những dự án mà việc thẩm định cần huy động nhiều cơ quan, nhiều lĩnh vực chuyên môn hoặc cần một cơ chế xem xét tập thể. Thay vì toàn bộ nội dung được xử lý trong phạm vi một đơn vị chuyên môn, Hội đồng tạo ra một diễn đàn chuyên môn để các thành viên cùng tham gia đánh giá, trao đổi và biểu quyết đối với các vấn đề thuộc Báo cáo nghiên cứu khả thi. Tuy nhiên, để Hội đồng hoạt động có tổ chức và không làm phân tán trách nhiệm, pháp luật đồng thời xác định rõ cơ quan thường trực, cơ chế điều hành, nguyên tắc biểu quyết và trách nhiệm của Hội đồng.

Việc thành lập Hội đồng thẩm định trước hết được thực hiện trên cơ sở đề xuất của cơ quan chuyên môn về xây dựng. Trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ khi tiếp nhận hồ sơ trình thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi theo Điều 36 của Nghị định, cơ quan chuyên môn về xây dựng phải thực hiện việc đề xuất thành lập Hội đồng trong trường hợp dự án thuộc đối tượng áp dụng. Thời hạn này tạo ra một mốc cụ thể để quá trình tổ chức Hội đồng được triển khai ngay sau khi hồ sơ được tiếp nhận, tránh kéo dài không cần thiết trước khi bắt đầu hoạt động thẩm định.

Cơ chế thành lập Hội đồng còn cho phép chủ động chuẩn bị sớm hơn trong trường hợp dự án có yêu cầu. Theo đó, Bộ trưởng hoặc Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thể quyết định thành lập Hội đồng thẩm định sau khi dự án đã có Quyết định chủ trương đầu tư. Mục đích của việc thành lập sớm là để Hội đồng thực hiện một số công tác phục vụ thẩm định đồng thời với quá trình lập Báo cáo nghiên cứu khả thi.

Đây là một điểm đáng chú ý trong tổ chức thẩm định. Nếu chỉ thành lập Hội đồng sau khi Báo cáo nghiên cứu khả thi đã hoàn thành và được trình thì toàn bộ công việc phục vụ thẩm định sẽ tập trung vào giai đoạn sau cùng. Trong khi đó, đối với dự án có yêu cầu đặc thù, việc thành lập Hội đồng ngay sau khi có quyết định chủ trương đầu tư cho phép một số hoạt động phục vụ thẩm định được chuẩn bị song song với quá trình lập báo cáo. Tuy nhiên, việc thành lập sớm này được thực hiện theo yêu cầu của dự án và trên cơ sở quyết định của Bộ trưởng hoặc Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

Về tổ chức, Hội đồng thẩm định bao gồm Chủ tịch Hội đồng, Phó Chủ tịch Hội đồng và các thành viên khác. Cơ cấu này vừa xác định người chịu trách nhiệm điều hành chung, vừa tạo điều kiện phân công và phối hợp giữa các thành viên trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.

Chủ tịch Hội đồng là lãnh đạo bộ hoặc lãnh đạo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, tùy thuộc vào chủ thể thành lập Hội đồng. Việc bố trí lãnh đạo bộ hoặc lãnh đạo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh làm Chủ tịch thể hiện vị trí của Hội đồng trong quá trình thẩm định dự án, đồng thời bảo đảm có chủ thể đủ thẩm quyền để điều hành hoạt động chung, xử lý những vấn đề cần thống nhất và đưa ra ý kiến trong trường hợp cơ chế biểu quyết phát sinh tình huống đặc biệt.

Thành viên Hội đồng bao gồm đại diện các cơ quan chuyên môn trực thuộc bộ quản lý công trình xây dựng chuyên ngành đối với Hội đồng do Bộ trưởng thành lập hoặc đại diện các cơ quan chuyên môn trực thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đối với Hội đồng do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thành lập. Bên cạnh đó còn có đại diện các bộ, ngành có liên quan.

Cơ cấu này cho phép Hội đồng tiếp cận dự án từ nhiều góc độ chuyên môn. Báo cáo nghiên cứu khả thi của một dự án có thể chứa nhiều nhóm vấn đề liên quan đến xây dựng và các lĩnh vực quản lý khác. Vì vậy, sự tham gia của các cơ quan chuyên môn và các bộ, ngành có liên quan tạo điều kiện để những nội dung thuộc chức năng của từng cơ quan được xem xét trong cùng một quá trình thẩm định.

Ngoài các thành viên được xác định theo cơ cấu nêu trên, căn cứ yêu cầu của từng dự án, Bộ trưởng hoặc Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có quyền quyết định mời đại diện của các bộ, ngành, cơ quan có liên quan, tổ chức tư vấn và các chuyên gia tham gia làm thành viên Hội đồng. Quy định này tạo sự linh hoạt để cơ cấu Hội đồng có thể được điều chỉnh phù hợp với tính chất kỹ thuật và mức độ phức tạp của từng dự án.

Đối với những vấn đề đòi hỏi chuyên môn chuyên sâu, việc có thêm tổ chức tư vấn hoặc chuyên gia giúp bổ sung năng lực phân tích cho Hội đồng. Tuy nhiên, việc mời thêm thành viên được thực hiện theo yêu cầu thực tế của dự án và do chủ thể có thẩm quyền thành lập Hội đồng quyết định.

Một bộ phận có vai trò đặc biệt quan trọng trong toàn bộ quá trình hoạt động là Cơ quan thường trực Hội đồng. Cơ quan chuyên môn về xây dựng trực thuộc theo chuyên ngành quản lý của dự án được xác định là Cơ quan thường trực. Nếu Hội đồng là thiết chế tập thể thực hiện việc thẩm định thì Cơ quan thường trực là đầu mối tổ chức, điều phối, tiếp nhận hồ sơ, xây dựng kế hoạch, tổng hợp kết quả và thực hiện các công việc phục vụ hoạt động của Hội đồng.

Nhiệm vụ đầu tiên của Cơ quan thường trực là xây dựng quy chế hoạt động của Hội đồng. Quy chế được xây dựng trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của cơ quan cử thành viên tham gia Hội đồng và được trình Chủ tịch Hội đồng quyết định ban hành. Quy chế hoạt động là cơ sở để xác định cách thức tổ chức công việc, trách nhiệm của các thành viên và phương thức phối hợp trong quá trình thẩm định.

Do Hội đồng bao gồm đại diện của nhiều cơ quan, nếu không có một quy chế thống nhất thì có thể phát sinh khó khăn trong việc phân định trách nhiệm và phối hợp. Vì vậy, việc xây dựng quy chế ngay từ đầu tạo khuôn khổ cho hoạt động tập thể của Hội đồng, đồng thời bảo đảm các thành viên thực hiện nhiệm vụ phù hợp với chức năng của cơ quan mình.

Cơ quan thường trực còn có trách nhiệm giúp Chủ tịch Hội đồng tổ chức công việc thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi và các hoạt động chung của Hội đồng. Vai trò này bao gồm việc hỗ trợ điều phối toàn bộ tiến trình thẩm định, chuẩn bị các nội dung cần thiết và phối hợp giữa các thành viên, cơ quan, đơn vị tham gia.

Trong trường hợp cần phối hợp với cơ quan liên quan hoặc tư vấn thẩm tra, Cơ quan thường trực là đầu mối tổ chức thực hiện. Tư vấn thẩm tra có thể tham gia hỗ trợ đối với những nội dung cần đánh giá chuyên môn theo yêu cầu của quá trình thẩm định. Việc phối hợp được tổ chức nhằm phục vụ hoạt động của Hội đồng chứ không thay thế vai trò kết luận của Hội đồng.

Một nhiệm vụ quan trọng khác là tiếp nhận và kiểm tra hồ sơ trình thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi. Cơ quan thường trực thực hiện việc kiểm tra hồ sơ, sau đó gửi tài liệu đến các thành viên Hội đồng và các cơ quan, đơn vị có liên quan. Đây là bước bảo đảm các chủ thể tham gia thẩm định có được thông tin và tài liệu cần thiết để nghiên cứu trước khi cho ý kiến.

Việc tổ chức luân chuyển hồ sơ qua Cơ quan thường trực cũng giúp duy trì một đầu mối thống nhất. Thay vì cơ quan chuẩn bị dự án phải tự gửi hồ sơ riêng đến từng thành viên, Cơ quan thường trực tiếp nhận và tổ chức phân phối tài liệu theo kế hoạch thẩm định. Qua đó, quá trình trao đổi hồ sơ được đặt trong cơ chế chung của Hội đồng.

Trên cơ sở hồ sơ đã tiếp nhận, Cơ quan thường trực xây dựng kế hoạch thẩm định và phân công nhiệm vụ cho các thành viên Hội đồng. Việc phân công phải gắn với các nội dung thẩm định được quy định tại Điều 38 của Nghị định. Đây là bước chuyển từ tổ chức Hội đồng về mặt nhân sự sang triển khai công việc cụ thể.

Mỗi thành viên có thể được phân công xem xét những vấn đề tương ứng với chuyên môn, chức năng của cơ quan mình hoặc yêu cầu của dự án. Việc phân công rõ ràng giúp hạn chế bỏ sót nội dung và tạo điều kiện để kết quả cuối cùng được hình thành từ các đánh giá chuyên môn cụ thể.

Sau khi quá trình xem xét được thực hiện, Cơ quan thường trực có trách nhiệm tổng hợp kết quả thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi. Việc tổng hợp phải phản ánh kết quả thẩm định và kết luận của Hội đồng. Sau khi Hội đồng có kết luận, Cơ quan thường trực ban hành văn bản Thông báo kết quả thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi.

Bên cạnh việc ban hành Thông báo kết quả thẩm định, Cơ quan thường trực còn thực hiện đóng dấu xác nhận trên các bản vẽ thiết kế xây dựng có liên quan theo quy định tại khoản 8 Điều 36 của Nghị định. Đây là công việc gắn kết kết quả thẩm định với hồ sơ thiết kế thuộc Báo cáo nghiên cứu khả thi.

Ngoài các nhiệm vụ đã được liệt kê, Cơ quan thường trực còn thực hiện những nhiệm vụ khác do Chủ tịch Hội đồng giao. Quy định này tạo điều kiện để xử lý những công việc phát sinh trong quá trình thẩm định mà không nhất thiết phải được liệt kê đầy đủ ngay từ đầu, miễn là thuộc phạm vi phục vụ hoạt động của Hội đồng.

Song song với nhiệm vụ của Cơ quan thường trực, Hội đồng thẩm định được trao những quyền hạn cần thiết để thực hiện chức năng của mình. Trước hết, Hội đồng có quyền xem xét và quyết định các vấn đề liên quan đến nội dung, chương trình và kế hoạch công tác của Hội đồng, Cơ quan thường trực cũng như những vấn đề khác phát sinh trong quá trình thẩm định dự án.

Quyền hạn này bảo đảm Hội đồng có khả năng chủ động tổ chức hoạt động phù hợp với hồ sơ và tính chất dự án. Hội đồng không chỉ tiếp nhận một chương trình làm việc cố định mà có thể xem xét, quyết định cách thức triển khai công việc trong phạm vi nhiệm vụ được giao.

Hội đồng cũng có quyền yêu cầu cơ quan chuẩn bị dự án, tổ chức tư vấn và các cơ quan có liên quan cung cấp tài liệu phục vụ quá trình cho ý kiến và thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi. Đây là một quyền hạn thiết yếu, bởi chất lượng thẩm định phụ thuộc trực tiếp vào mức độ đầy đủ và rõ ràng của thông tin được cung cấp.

Nếu trong quá trình xem xét phát sinh vấn đề cần làm rõ hoặc cần bổ sung tài liệu, Hội đồng có cơ sở yêu cầu các chủ thể liên quan cung cấp. Qua đó, Hội đồng có điều kiện đánh giá dự án dựa trên hồ sơ và thông tin cần thiết thay vì chỉ giới hạn trong tài liệu ban đầu khi chưa đủ cơ sở.

Về phương thức tổ chức thẩm định, Hội đồng có thể áp dụng nhiều hình thức. Báo cáo nghiên cứu khả thi có thể được thẩm định thông qua phiên họp Hội đồng thẩm định, cuộc họp thẩm định hoặc bằng hình thức lấy ý kiến thẩm định bằng văn bản. Việc cho phép nhiều hình thức tạo sự linh hoạt trong tổ chức công việc.

Đối với những nội dung cần thảo luận tập thể, phiên họp hoặc cuộc họp tạo điều kiện để các thành viên trực tiếp trao đổi và làm rõ quan điểm. Trong khi đó, những nội dung phù hợp có thể được lấy ý kiến bằng văn bản. Dù thực hiện theo hình thức nào, ý kiến của thành viên vẫn là cơ sở để Hội đồng tổng hợp, biểu quyết và đưa ra kết luận theo nguyên tắc được quy định.

Một đặc điểm cốt lõi trong hoạt động của Hội đồng là chế độ làm việc tập thể dưới sự điều hành của Chủ tịch Hội đồng. Điều này có nghĩa kết quả thẩm định không được hình thành chỉ từ ý kiến riêng của một thành viên mà dựa trên cơ chế tập thể, trong đó các thành viên tham gia cho ý kiến và biểu quyết theo quy định.

Để một phiên họp Hội đồng được coi là hợp lệ, phải có ít nhất 50% tổng số thành viên tham dự, trong đó bao gồm cả người được ủy quyền. Quy định về tỷ lệ tham dự tối thiểu nhằm bảo đảm phiên họp có mức độ đại diện cần thiết trước khi Hội đồng xem xét và đưa ra các ý kiến kết luận.

Các ý kiến kết luận của Hội đồng được thống nhất theo nguyên tắc đa số. Đây là nguyên tắc cơ bản trong hoạt động tập thể, cho phép Hội đồng hình thành quyết định chung khi giữa các thành viên tồn tại những quan điểm khác nhau. Thay vì yêu cầu mọi thành viên phải hoàn toàn đồng thuận, phương án nhận được sự ủng hộ theo nguyên tắc đa số sẽ là cơ sở để xác định kết quả.

Quy định đồng thời xử lý trường hợp tỷ lệ biểu quyết bằng nhau. Nếu tỷ lệ biểu quyết bằng nhau và đạt 50% số thành viên Hội đồng, bao gồm cả số thành viên có mặt tại phiên họp và số thành viên gửi biểu quyết bằng văn bản đến Hội đồng, vấn đề được thông qua theo ý kiến mà Chủ tịch Hội đồng đã biểu quyết.

Vai trò của Chủ tịch trong trường hợp này không thay thế nguyên tắc làm việc tập thể mà là cơ chế giải quyết tình huống biểu quyết cân bằng. Khi số ý kiến giữa các phương án ngang nhau theo điều kiện được quy định, ý kiến biểu quyết của Chủ tịch trở thành căn cứ xác định vấn đề được thông qua.

Tuy nhiên, đối với kết luận cuối cùng thông qua các nội dung thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi, yêu cầu về mức độ đồng thuận được đặt cao hơn nguyên tắc đa số thông thường. Kết luận cuối cùng phải được ít nhất hai phần ba số thành viên Hội đồng thẩm định thông qua.

Đây là một yêu cầu quan trọng bởi kết luận cuối cùng là kết quả tổng hợp của toàn bộ quá trình thẩm định và là cơ sở để Cơ quan thường trực ban hành Thông báo kết quả thẩm định. Việc yêu cầu ít nhất hai phần ba số thành viên thông qua giúp bảo đảm kết luận cuối cùng đạt mức đồng thuận cao trong Hội đồng.

Ý kiến của thành viên có thể được thực hiện bằng hai phương thức: biểu quyết trực tiếp tại cuộc họp hoặc gửi ý kiến bằng văn bản đến Hội đồng. Như vậy, thành viên không nhất thiết chỉ có thể tham gia biểu quyết thông qua việc có mặt trực tiếp tại phiên họp. Cơ chế ý kiến bằng văn bản giúp bảo đảm khả năng tham gia của thành viên trong quá trình hình thành kết quả theo quy định.

Nếu nhìn toàn bộ cơ chế biểu quyết, có thể thấy ba tầng nguyên tắc khác nhau. Trước hết, phiên họp chỉ hợp lệ khi có ít nhất 50% số thành viên tham dự. Tiếp theo, các ý kiến kết luận thông thường được thống nhất theo nguyên tắc đa số và có cơ chế xử lý trường hợp biểu quyết ngang nhau. Cuối cùng, kết luận cuối cùng thông qua các nội dung thẩm định phải đạt tỷ lệ ít nhất hai phần ba tổng số thành viên Hội đồng. Ba yêu cầu này cần được phân biệt rõ khi tổ chức hoạt động của Hội đồng.

Cùng với quyền hạn và cơ chế biểu quyết, Hội đồng phải chịu trách nhiệm đối với hoạt động thẩm định của mình. Hội đồng thẩm định chịu trách nhiệm trước Bộ trưởng hoặc Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về việc tổ chức thẩm định theo nhiệm vụ được giao. Trách nhiệm này bao gồm cả quá trình tổ chức thực hiện và kết quả cuối cùng của hoạt động thẩm định.

Hội đồng đồng thời chịu trách nhiệm về nội dung ý kiến, kết quả thẩm định, các kết luận và kiến nghị được đưa ra theo quy chế hoạt động. Như vậy, cơ chế làm việc tập thể không đồng nghĩa với việc trách nhiệm bị phân tán. Hội đồng với tư cách một thiết chế được thành lập cho dự án phải chịu trách nhiệm về sản phẩm chuyên môn do mình hình thành.

Quy chế hoạt động có vai trò quan trọng trong việc cụ thể hóa trách nhiệm này. Vì Hội đồng gồm thành viên từ nhiều cơ quan khác nhau nên quy chế là cơ sở tổ chức việc phân công, phối hợp và thực hiện nhiệm vụ. Các ý kiến chuyên môn của từng thành viên được tổng hợp trong cơ chế chung để hình thành kết quả và kết luận của Hội đồng.

Một đặc điểm đáng chú ý khác là Hội đồng thẩm định không tồn tại thường xuyên sau khi hoàn thành nhiệm vụ. Hội đồng tự giải thể sau khi Cơ quan thường trực hoàn thành việc Thông báo kết quả thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi của dự án.

Thời điểm tự giải thể được gắn với một sản phẩm cụ thể của quá trình thẩm định, đó là việc hoàn thành Thông báo kết quả thẩm định. Điều này xác định rõ vòng đời hoạt động của Hội đồng: được thành lập để thực hiện nhiệm vụ thẩm định đối với dự án, tổ chức xem xét và biểu quyết, đưa ra kết luận, sau đó Cơ quan thường trực ban hành thông báo kết quả và Hội đồng chấm dứt hoạt động.

Cơ chế tự giải thể phù hợp với bản chất Hội đồng được thành lập theo dự án. Hội đồng không phải là một cơ quan hành chính thường xuyên mà là một cơ chế tập thể được thiết lập để hoàn thành một nhiệm vụ xác định. Khi nhiệm vụ thẩm định đã được hoàn tất và kết quả được thông báo theo quy định, lý do tồn tại của Hội đồng đối với dự án đó cũng kết thúc.

Nhìn tổng thể, quá trình hoạt động của Hội đồng có thể được hình dung thành một chuỗi liên tục. Đầu tiên là xác định dự án thuộc trường hợp cần thành lập Hội đồng. Cơ quan chuyên môn về xây dựng đề xuất việc thành lập trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ khi tiếp nhận hồ sơ, hoặc Hội đồng có thể được thành lập sớm hơn sau quyết định chủ trương đầu tư nếu dự án có yêu cầu. Tiếp đó là xác định Chủ tịch, Phó Chủ tịch, thành viên và Cơ quan thường trực. Sau khi được thành lập, Cơ quan thường trực xây dựng quy chế, tiếp nhận và kiểm tra hồ sơ, xây dựng kế hoạch, phân công nhiệm vụ và tổ chức phối hợp phục vụ thẩm định.

Các thành viên Hội đồng thực hiện nhiệm vụ theo sự phân công, nghiên cứu hồ sơ, cho ý kiến và tham gia các phiên họp hoặc gửi ý kiến bằng văn bản. Trong quá trình đó, Hội đồng có quyền yêu cầu cơ quan chuẩn bị dự án, tổ chức tư vấn và cơ quan liên quan cung cấp thêm tài liệu khi cần thiết. Kết quả của từng nội dung được tổng hợp và xử lý theo nguyên tắc làm việc tập thể.

Sau khi các nội dung đã được xem xét, Hội đồng tiến hành thống nhất kết luận. Những vấn đề thông thường áp dụng nguyên tắc đa số, trong khi kết luận cuối cùng về các nội dung thẩm định phải được ít nhất hai phần ba số thành viên Hội đồng thông qua. Trên cơ sở kết luận đó, Cơ quan thường trực tổng hợp kết quả, ban hành Thông báo kết quả thẩm định và đóng dấu xác nhận trên các bản vẽ thiết kế xây dựng có liên quan theo quy định. Khi công việc này hoàn thành, Hội đồng tự giải thể.

Cơ chế này cho thấy Cơ quan thường trực và Hội đồng có vai trò khác nhau nhưng liên kết chặt chẽ. Hội đồng là chủ thể tập thể xem xét, cho ý kiến và thông qua kết luận, còn Cơ quan thường trực là đầu mối tổ chức và triển khai các công việc phục vụ Hội đồng. Cơ quan thường trực không thay thế Hội đồng trong việc đưa ra kết luận cuối cùng, và Hội đồng cũng cần Cơ quan thường trực để biến các quyết định tập thể thành một quy trình thẩm định được tổ chức thống nhất.

Vai trò của Chủ tịch Hội đồng cũng xuyên suốt toàn bộ quá trình. Chủ tịch điều hành chế độ làm việc tập thể, quyết định ban hành quy chế hoạt động, xem xét các vấn đề thuộc phạm vi của Hội đồng và có vai trò đặc biệt trong trường hợp biểu quyết ngang nhau. Đồng thời, Cơ quan thường trực thực hiện nhiều nhiệm vụ trên cơ sở hỗ trợ hoặc theo sự giao nhiệm vụ của Chủ tịch.

Sự tham gia của các thành viên đại diện cho cơ quan chuyên môn, bộ, ngành, tổ chức tư vấn và chuyên gia giúp Hội đồng có khả năng xem xét Báo cáo nghiên cứu khả thi trên nhiều phương diện. Tuy nhiên, hiệu quả của cơ chế này phụ thuộc vào việc phân công rõ ràng, cung cấp đầy đủ hồ sơ và tổng hợp đúng các ý kiến. Đây chính là lý do các nhiệm vụ của Cơ quan thường trực được quy định tương đối cụ thể.

Việc quy định tỷ lệ tham dự và tỷ lệ biểu quyết cũng giúp hoạt động của Hội đồng có căn cứ rõ ràng. Phiên họp không thể được coi là hợp lệ nếu số lượng thành viên tham gia không đạt mức tối thiểu. Tương tự, kết luận cuối cùng không thể chỉ dựa vào số ít thành viên mà phải nhận được sự đồng thuận của ít nhất hai phần ba tổng số thành viên. Những yêu cầu này tạo cơ chế kiểm soát đối với quá trình hình thành ý kiến tập thể.

Đối với cơ quan chuẩn bị dự án, việc dự án được thẩm định thông qua Hội đồng cũng đặt ra yêu cầu phối hợp chặt chẽ. Hồ sơ phải được cung cấp đầy đủ và khi Hội đồng yêu cầu tài liệu bổ sung, cơ quan chuẩn bị dự án cùng các tổ chức tư vấn, cơ quan có liên quan phải cung cấp tài liệu phục vụ việc cho ý kiến và thẩm định. Khả năng giải trình và làm rõ hồ sơ có ý nghĩa trực tiếp đối với quá trình Hội đồng xem xét dự án.

Có thể thấy Hội đồng thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi được tổ chức theo nguyên tắc kết hợp giữa trách nhiệm quản lý nhà nước, chuyên môn kỹ thuật và cơ chế quyết định tập thể. Bộ trưởng hoặc Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh là chủ thể thành lập; lãnh đạo bộ hoặc lãnh đạo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giữ vai trò Chủ tịch; cơ quan chuyên môn về xây dựng theo chuyên ngành làm Cơ quan thường trực; các cơ quan chuyên môn, bộ, ngành và khi cần thiết là chuyên gia, tư vấn tham gia với tư cách thành viên. Cấu trúc này tạo ra một hệ thống có cả bộ phận điều hành, bộ phận thường trực và thành viên chuyên môn.

Như vậy, Hội đồng thẩm định không đơn thuần là một cuộc họp để cho ý kiến đối với Báo cáo nghiên cứu khả thi mà là một cơ chế thẩm định có đầy đủ trình tự từ thành lập, xây dựng quy chế, tiếp nhận hồ sơ, phân công nhiệm vụ, tổ chức thẩm định, yêu cầu bổ sung tài liệu, họp hoặc lấy ý kiến, biểu quyết, thông qua kết luận, ban hành thông báo kết quả cho đến tự giải thể. Mỗi bước đều gắn với trách nhiệm của một chủ thể cụ thể và được đặt trong mối quan hệ với hoạt động chung của Hội đồng.

Tóm lại, Hội đồng thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi là cơ chế tổ chức thẩm định tập thể được thành lập cho những dự án thuộc trường hợp pháp luật quy định. Hội đồng được thành lập bởi Bộ trưởng bộ quản lý công trình xây dựng chuyên ngành hoặc Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và thực hiện vai trò thẩm định của cơ quan chuyên môn về xây dựng. Việc thành lập được đề xuất trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ khi tiếp nhận hồ sơ hoặc có thể được thực hiện sớm sau quyết định chủ trương đầu tư khi dự án có yêu cầu. Hội đồng có Chủ tịch, Phó Chủ tịch, các thành viên và Cơ quan thường trực; được quyền quyết định chương trình, kế hoạch công tác và yêu cầu cung cấp tài liệu; có thể thẩm định thông qua họp hoặc lấy ý kiến bằng văn bản; làm việc theo chế độ tập thể và nguyên tắc biểu quyết được xác định rõ. Kết luận cuối cùng về nội dung thẩm định phải được ít nhất hai phần ba số thành viên thông qua. Hội đồng chịu trách nhiệm về tổ chức thẩm định, ý kiến, kết quả, kết luận và kiến nghị của mình, đồng thời tự giải thể sau khi Cơ quan thường trực hoàn thành Thông báo kết quả thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi. Toàn bộ cơ chế này tạo nên một quy trình thẩm định có tổ chức, có sự phối hợp đa ngành và có trách nhiệm rõ ràng, qua đó hình thành cơ sở chuyên môn phục vụ việc xem xét Báo cáo nghiên cứu khả thi của dự án đầu tư xây dựng.

CÔNG TY CỔ PHẦN TƯ VẤN ĐẦU TƯ & THIẾT KẾ XÂY DỰNG MINH PHƯƠNG 
Địa chỉ: 28B Mai Thị Lựu - Khu phố 7, Phường Tân Định, TP.HCM
Hotline: (028 22 142 126 - 0903 649 782 
Email: minhphuong.corp@yahoo.com.vn hoặc thanhnv93@yahoo.com.vn 
Website: www.minhphuongcorp.comwww.khoanngam.com;  www.lapduan.com;

 

 

Bình luận (0)

Gửi bình luận của bạn

Captcha